Home » Phật Học » Kiến thức cơ bản » Bát quan trai giới – Pháp sư Quảng Tịnh

Bát quan trai giới

Trích sách: KHÁI NIỆM CƠ BẢN VỀ NIỀM TIN PHẬT GIÁO

Biên Soạn: Pháp Sư Quảng Tịnh

Việt dịch: Thích Ðạo Cơ

Dẫn Nhập

Việc học Phật cứ theo tuần tự dần tiến, mới học thì bắt đầu từ tam quy y ngũ giới. Nếu như có thể như pháp phụng hành thì mới không rơi vào ba đường ác (địa ngục, ngạ quỷ, súc sanh), không mất thân người. Nhưng, mục đích cuối cùng của Phật pháp là dạy cho con người liễu thoát sanh tử, mà năm giới chỉ là pháp dạy cho cõi trời, cõi người. Hàng đệ tử Phật muốn tiến cầu giải thoát thì phải xuất gia thực hành pháp xuất thế gian. Người tin Phật, học Phật ở đời rất nhiều, mặc dù có ảnh hưởng đời sống của người xuất gia, nhưng do có sự khác nhau về nhân duyên bởi các nhân tố như: nghề nghiệp, gia đình, xã hội … mà không cách gì để đạt đến mục đích. Bởi thế, đức Phật từ bi khai thị pháp môn phương tiện này, khiến cho hàng tín đồ trong một ngày một đêm có thể thực tập đời sống xuất gia, gieo căn lành xuất thế,  khai mở cửa ngõ giải thoát .

 Chánh Ðề

I. Ðịnh nghĩa

Bát quan là chặn đứng tám điều ác, không khởi các lỗi lầm. Trai là quá ngọ không ăn. Tám điều đó là:

1.        Không sát sanh.

2.        Không trộm cắp.

3.        Không dâm dục.

4.        Không nói dối.

5.        Không uống rượu.

6.        Không mang vòng hoa thơm, không thoa ướp dầu thơm.

7.        Không ca múa và cố ý đến xem nghe.

8.        Không ngồi, nằm giường cao rộng lớn.

9.        Không ăn phi thời.

II. Nội dung

1. Không sát sanh: Trên từ chư Phật, Thánh nhân, sư tăng, cha mẹ, dưới đến các loài côn trùng nhỏ, hễ có sinh mạng thì không được giết, bảo người khác giết, thấy giết mà khởi lòng vui vẻ .

2. Không trộm cắp: Vàng bạc, vật quý cho đến một cây kim, một sợi chỉ cũng không được lấy, không được không cho mà lấy .

3. Không dâm dục: Trong một ngày một đêm phải xa lìa tất cả trai gái thế gian cũng như vợ hay chồng của mình .

4. Không nói dối: Nói láo, nói thêu dệt, nói hai chiều, nói lời ác độc, hễ là nói những lời mà giữa tâm và miệng khác nhau đều là vọng ngữ. Tuy nhiên, vì lòng từ bi cứu giúp, dùng cách thức khéo léo mà nói thì không phạm .

5. Không uống rượu: Tất cả những thứ làm thành từ ngũ cốc, hoa quả, có khả năng làm người say, đều không được uống .

6. Không mang vòng hoa thơm, không thoa ướp dầu thơm: Không được lấy hoa xâu thành vòng, dùng các hương thơm xông hay đeo trang sức lên thân, và tất cả hoa đẹp kết lên y phục .

7. Không ca múa,  xem nghe: Không tự luyện bài hát, điệu múa, hý kịch …; khi người khác biểu diễn, cũng không được cố ý đến xem nghe .

8. Không ngồi nằm giường cao rộng: Không ngồi nằm nơi giường ghế sang trọng .

9. Không ăn phi thời: Quá nửa ngày không được ăn những đồ vật như ngũ cốc, hoa quả…

Tám điều trước là giới, không phải trai; điều thứ chín là trai giới. Hợp tám loại giới và trai thứ chín lại gọi là Bát quan trai giới. Ðây là dựa theo ý của “Thành thật luận” và “ Trí độ luận” mà nói .

Trong Bát quan trai giới, năm điều giới trước giống với Ngũ giới, mặc dù ở Ngũ giới là không tà dâm còn ở Bát quan trai giới là không dâm dục. Vì lẽ, căn bản của sanh tử luân hồi, dâm dục là đệ nhất. Ðiều thứ sáu: Không mang vòng hoa thơm, không thoa ướp dầu thơm. Mang vòng hoa thơm tức là trước đây, những mỹ nhân Ấn Ðộ tự làm đẹp mình, thường lấy hoa thơm kết thành mũ hoa, hoặc lấy vàng bạc, vật quý, khảm thành mang trên đầu hoặc trên thân. Ðến ngày nay, đó là những thứ của người nữ như: dây chuyền, bông tai, trâm cài tóc, nhẫn … cho đến những vật trang sức của người nam. “Dầu thơm thoa thân” cũng là tập tục của người Ấn Ðộ, do vì Ấn Ðộ là xứ nhiệt đới, cho nên họ phải thoa dầu để giữ độ ẩm cho da; người có tiền thì dùng những thứ dầu thơm hảo hạng. Những thứ đó nay là: nước thơm, phấn thơm, kem thơm …Người nữ là những người thích làm đẹp; bản thân thích đẹp là thiên tánh của họ, nên trong sinh hoạt hàng ngày, hầu như họ không thể bỏ qua, không dùng đến những mỹ phẩm này. Nhưng, vào ngày trai giới thì nên đình chỉ sử dụng. Ðiều thứ bảy: Không ca múa, xem nghe. Ca vũ là bao gồm: ca múa, biểu diễn, hát xướng. Ðây là những loại hình giải trí trong đời sống hàng ngày của người dân. Từ xưa đến nay, nó bị xem thường, cho là thứ mua vui của cuộc sống. Hàng Phật tử tại gia nếu vì xã giao mà thường tham gia xem hình thức văn nghệ thì cũng nên lựa chọn thích hợp những loại hình thức có ý nghĩa giáo dục hoặc có giá trị văn hóa. Nhưng, thọ Bát quan trai là một ngày một đêm học tập đời sống xuất gia, chuyên tâm chánh niệm cho nên không thể hành xử theo quan điểm của thế tục. Nếu thuần túy vì để cúng dường chư Phật, tán dương công đức Tam bảo như: Phật hóa điện ảnh, ca nhạc, kịch vui … thì có thể cho phép được. Ðiều thứ tám: không ngồi nằm giường cao rộng lớn. Ở Tây vức, giường hàm ý chỉ vật dụng để ngủ hoặc để ngồi. Ngẫu Ích đại sư người đời nhà Minh (chú giải phần chủ yếu mười giới oai nghi) có nói: “Giường chân cao 1m6, khi ngồi chân phải chạm đất, quá lượng này thì gọi là cao; khi nằm chỉ cần để cho thân thể xoay trở vừa phải, quá điều này tức là rộng. Ðã cao và rộng thì gọi là lớn”. Ở đây muốn nói là không nên dùng đồ nằm quá sang trọng. Ðiều thứ chín:  Không ăn phi thời: sau khi quá ngọ, ngoài uống nước ra không được ăn bất cứ thứ gì, cứ thế đến sáng mai thì được phép. Nếu ăn uống đúng giờ giấc thì tọa thiền mới dễ đạt được hiệu quả. Không ăn quá ngọ một ngày một đêm rất dễ thực hiện, giả như bụng đói không thể chịu được thì có thể phương tiện cho dùng đường hoặc uống nước quả. Nhưng, lúc dùng phải sanh tâm xấu hổ.

Tóm lại, đời sống đạm bạc mới có thể đề cao lãnh vực tinh thần, cũng có thể dũng mãnh tinh tấn trên con đường đạo nghiệp. Cho nên, tự bản thân phải khắc phục những xúc cảm của các giác quan để cầu phạm hạnh thanh tịnh.

III. Vì sao phải thọ bát quan trai giới?

Ðó là vì để gieo trồng thiện căn xuất thế. Trọng điểm của Bát quan trai giới là ở chỗ giới trừ dâm dục và tiết chế ăn uống. Năm điều trước của Bát quan trai giới, trừ giới thứ ba là “không dâm dục” ra, còn những giới khác đều giống Ngũ giới. Ở đây trọng điểm là giới dâm. Ðiều thứ sáu không mang vòng hoa, không thoa ướp dầu thơm; điều thứ bảy: không ca múa, xem nghe; điều thứ tám: không ngồi nằm giường cao rộng lớn…, mục đích gián tiếp cũng là giới dâm. Theo quan điểm Phật giáo, dâm dục là căn bản của sanh tử, mà ăn uống là điều kiện tăng trưởng nhất của nó (tăng thượng duyên). Ðó là nguyên nhân căn bản của chúng sanh mãi mãi là chúng sanh mà không thể nào thoát khỏi luân hồi sanh tử. Nó cũng là bản năng cùng hiện hữu với ta khi ta sanh ra. Nếu có thể vượt qua hai dục niệm này thì sẽ giải thoát ra khỏi ba cõi. Phi tưởng phi phi tưởng thiên là tầng trời cao nhất ở cõi vô sắc, tuy không còn ý nghĩa về dâm dục nhưng vẫn chưa lìa khỏi thức thực; cho nên, vẫn chưa ra khỏi sanh tử. Hiện tại để vượt qua sanh tử nên phải giữ giới dâm, vì muốn ức chế dâm dục nên phải trì trai giới .

 

IV. Ðiều kiện thọ giới

Căn cứ trong quyển thứ nhất (của Tát bà đa tỳ bà sa) có nói: “Phàm loài đắc được giới Ba-la-đề-mộc-xoa (Bát quan trai giới cũng là Ba-la-đề-mộc-xoa ), theo năm đường mà xét thì chỉ có nhân đạo”.  Lại nói: “Một là nam, hai là nữ, ba là huỳnh môn (yểm nhân) và bốn là nhị căn; trong bốn hạng người này, chỉ có nam và nữ là có thể đắc giới”. Bởi thế nên biết rằng trong loài người chỉ có nam nữ sinh lý bình thường mới có thể đắc giới. Vả lại nói: “Trong hàng nam nữ này, nếu ai giết cha, giết mẹ, giết A-la-hán, làm thân Phật ra máu, phá hòa hợp Tăng (từ đây trở lên gọi là ngũ nghịch) làm ô nhiễm Tỳ-kheo ni, tặc trú (người phi pháp mà ở trong Tăng chúng), việc tế nhân (người vì mưu sống chẳng phải vì Phật pháp mà xuất gia), mất thiện căn, thì những người này như vậy hoàn toàn không thể đắc giới”. Cho nên, biết rằng những người phạm ngũ nghịch, phá tịnh giới đều không thể đắc giới.

Lại nói: “Ðức Phật không giới hạn một ngày một đêm. Nếu có năng lực thọ, một ngày một  đêm qua rồi thì tiếp tục thọ tiếp. Như vậy, tùy theo khả năng thọ nhiều hay ít, không tính số ngày .

 

V. Thanh tịnh trai giới

Ở phần cuối trong Ngũ giới tướng tiên yếu, Ngẫu Ích đại sư có nói về thanh tịnh trai giới như sau: “Phàm ngày trai giới, không được đánh đập chúng sanh, thân khẩu không được làm những việc như mất oai nghi; không được khởi các phiền não như tham dục, sân nhuế …, lại nên tu lục niệm2. Nếu ai phạm bốn điều cấm trên, tuy không phá trai nhưng trai giới không thanh tịnh” .

Trì Bát quan trai giới tuy chỉ có chín điều, nhưng thọ trì cho thanh tịnh thì không phải là việc dễ. Nếu ai không cẩn thận trong việc ăn uống thì không đạt được lợi ích như mong muốn. Giống như có người cho rằng ngày mai muốn thọ Bát quan trai giới thì hôm nay tha hồ phóng túng. Hoặc hôm nay thọ giới thanh tịnh mà tâm mơ tưởng đến sự tự do thoải mái ngày mai. Thật sai lầm hết sức! Thế nên, trước khi thọ trai giới, phải sám hối, cầu mong thân tâm thanh tịnh và bảo cho người khác biết: “Tôi muốn thọ Bát quan trai giới”.

Thọ trì Bát quan trai giới phải qua một ngày một đêm, đã thọ rồi thì không nên bỏ. Nhưng nếu gặp nghịch duyên hoặc vì phiền não hay quá đói không nhịn được, chỉ cần trình bày cho người hiểu việc biết nói chuyện nói rõ mọi việc, là đã có thể xả giới. Không thể giữ thì nên xả; không thể giữ mà lại phạm giới, về sau muốn thọ thì trước tiên phải sám hối sau đó mới được thọ.

 

VI. Công đức

Công đức trì giới, căn cứ vào quyển năm (của kinh Ưu-bà-tắc) có nói: “Nếu ai có thể thanh tịnh thọ trì Bát quan trai giới thì sẽ được vô lượng phước báu, cho đến đạt được niềm vui vô thượng”.

Kết Luận

Ðức Phật trụ ở đời nguyên vì lợi lạc cho tất cả chúng sanh. Do căn tánh chúng sanh bất đồng nên giáo pháp trình bày có khác. Nhưng nhìn chung vẫn không ra ngoài Tam vô lậu học: giới-định-tuệ. Giới học là căn bản. Dựa vào cấp bậc của giới có thể phân làm bảy chúng đệ tử. Chúng xuất gia bao gồm: Tỳ-kheo, Tỳ-kheo ni, Thưùc-xoa-ma-na, Sa-di, Sa-di ni. Chúng tại gia bao gồm: Ưu-bà-tắc, Ưu-bà-di (thiện nam, tín nữ thọ năm giới). Tuy nhiên, mục đích học Phật là cầu giải thoát sanh tử ra khỏi ba cõi, nên đức Phật đặc biệt vì hàng đệ tử tại gia mà đặt ra Bát quan trai giới này. Hàng đệ tử tại gia không nên cho thọ năm giới là đủ mà nên cảm nhận ân đức của Phật, vận dụng cơ hội đến tự viện hoặc ở nhà thọ trì Bát quan trai giới, để mong sớm giải thoát.


1 Tham khảo thêm Chương V.

2 Lục niệm.

1. Niệm Phật:

Niệm Phật đầy đủ mười hiệu, có đại từ, đại bi, đại quang minh, thần thông vô lượng, có khả năng bạt trừ cứu giúp khổ não của chúng sanh. Ta cũng muốn như đức Phật vậy.

2. Niệm Pháp:

Niệm Tam tạng, mười hai bộ kinh mà đức Phật đã thuyết, có đại công đức làm đại diệu dược cho chúng sanh. Ta muốn chứng đắc pháp mầu ấy mà ban bố cho mọi loài .

3. Niệm Tăng:

Là niệm đệ tử của Như lai đã đắc được pháp vô lậu, đầy đủ giới-định-tuệ, có thể làm ruộng phước lành cho thế gian. Ta muốn tu tập hạnh của Tăng .

4. Niệm giới:

Niệm hạnh giới có oai lực lớn, có khả năng phá trừ pháp bất thiện của chúng sanh. Ta muốn tinh tấn hộ trì những giới ấy.

5. Niệm bố thí:

Niệm hạnh bố thí có công đức rất lớn, có khả năng trừ bỏ trọng bệnh keo kiệt, tham lam của chúng sanh. Ta muốn dùng thiện thí nhiếp thủ chúng sanh.

6. Niệm thiên:

Niệm thiên là niệm 6 cõi trời dục giới cho đến các cõi trời ở sắc giới và vô sắc giới. Nơi đó, những niềm vui có được một cách tự nhiên đều do ngày xưa tu các căn lành của giới thí. Ta cũng muốn đầy đủ công đức như vậy, sinh vào các cõi trời đó (hoặc có người hỏi đệ tử Phật phải niệm Tam bảo, sao lại niệm thiên? Vì sanh thiên chính là thiện nghiệp của mình. Hoặc có người hỏi: sanh thiên là pháp của phàm phu, vì sao phải niệm? Vì đây là người đã biết con đường đến Niết-bàn còn xa nên không chịu đi; vì vậy, niệm sanh thiên là để khiến cho tâm của họ hướng tới mong cầu Niết-bàn).

Trả lời

Thư điện tử của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *

Chuyên mục