Home » Kinh » Kinh Duy-Ma-Cật – Thích Huệ Hưng dịch

Kinh Duy-Ma-Cật – Thích Huệ Hưng dịch

Phật Lịch 2514
KINH DUY-MA-CẬT
Đời Diêu Tần, ngài Tam tạng Pháp sư Cưu Ma La Thập
vưng chiếu dịch ra chữ Trung Hoa
Dịch giả: Thích Huệ Hưng
Dương Lịch 1970

VIII PHẨM PHẬT ÐẠO (1)

Bấy giờ Ngài văn Thù Sư Lợi hỏi ông Duy Ma Cật rằng :
– Bồ Tát thế nào là thông đạt Phật đạo ?
– Bồ Tát thật hành phi đạo(2) (trái đạo) là thông đạt Phật đạo.
– Lại hỏi : Thế nào là Bồ Tát thật hành Phi đạo ?
– Nếu Bồ Tát gây năm tội vô gián(3) mà không buồn giận, đến ở trong địa ngục mà không có tội cấu; đến trong loài súc sanh mà không có những lỗi vô minh kiêu mạn; đến trong ngạ quỉ mà vẫn đầy đủ công đức; đến cảnh Sắc và Vô Sắc giới mà không cho là thù thắng; hiện làm tham dục mà không nhiễm đắm; hiện làm giận dữ mà đối với chúng sanh không có ngại gì; hiện cách ngu si mà dùng trí tuệ điều phục tâm mình; hiện làm hạnh tham lam bỏn sẻn mà bỏ tất cả của cải, không tiếc thân mạng; hiện phá giới cấm mà ở trong tịnh giới, đến như tội bé nhỏ cũng hết lòng sợ sệt; hiện làm giận dũi mà thường từ bi, nhẫn nhục; hiện làm lười biếng mà siêng tu các công đức; hiện làm loạn ý mà thường niệm định; hiện làm ngu si mà thông đạt trí tuệ thế gian và xuất thế gian; hiện làm dua dối mà phương tiện thuận theo nghĩa các kinh; hiện làm kiêu mạn mà đối với chúng sanh mình cũng như cầu, đò(4); hiện làm tất cả phiền não mà lòng thường thanh tịnh; hiện vào trong chúng ma mà thuận theo trí tuệ của Phật, không theo đạo giáo khác; hiện làm hàng Thanh Văn mà nói các pháp chưa từng nghe cho chúng sanh; hiện vào hàng Bích Chi Phật mà thành tựu lòng đại bi, giáo hóa chúng sanh; hiện vào hạng nghèo nàn mà có tay đầy đủ của công đức; hiện vào hạng tàn tật mà đủ tướng tốt để trang nghiêm thân mình; hiện vào hạng hèn hạ mà sanh trong giòng giống Phật, đầy đủ các công đức; hiện vào hạng người ốm yếu xấu xa mà được thân Na-la-diên (kim cang), tất cả chúng sanh đều muốn xem; hiện vào hạng già bịnh mà đoạn hẳn gốc bịnh, không còn sợ chết; hiện làm hạng giàu có mà xem là vô thường, không có tham đắm; hiện có thê thiếp, thế nữ mà tránh xa bùn lầy ngũ dục; hiện nơi hạng đần độn mà thành tựu biện tài, vẫn giữ tổng trì; hiện vào tà tế(5) mà dùng chánh tế độ chúng sanh; hiện vào khắp các đạo, để đoạn dứt nhơn duyên; hiện vào Niết bàn mà không bỏ sanh tử. Thưa Ngài Văn Thù Sư Lợi ? Nếu Bồ Tát làm được những việc trái đạo như thế, đấy là thông suốt Phật đạo.

Bấy giờ, ông Duy Ma Cật hỏi Ngài Văn Thù Sư Lợi rằng :
– Thế nào là hột giống Như Lai ?
Ngài Văn Thù Sư Lợi nói :
– Có thân là hột giống; vô minh có ái là giống; tham, sân, si là giống; 4 món điên đảo(6) là giống; 5 món che ngăn là giống; 6 nhập là giống ; 7 chỗ thức(7) là giống; 8 pháp tà(8) là giống; 9 món não(9) là giống; 10 điều bất thiện là giống; nói tóm lại 62 món tà kiến và tất cả phiền não đều là giống Phật cả.

Ông Duy Ma Cật hỏi :
– Tại sao thế ?
– Nếu người thấy vô vi mà vào chánh vị (Niết bàn) thời không thể còn phát tâm Vô Thượng Chánh Ðẳng Chánh Giác nữa. Ví như chỗ gò cao không thể sinh hoa sen, mà nơi bùn lầy thấp ướt mới có hoa sen. Như thế, người thấy vô vi, vào chánh vị không còn sanh trong Phật pháp được, mà ở trong bùn lầy phiền não mới có chúng sinh nghĩ đến Phật pháp mà thôi. Lại như gieo hột giống trên hư không thì không sinh được, ở đất phân bùn mới tốt tươi được. Như thế, người đã vào vô vi chánh vị không sanh được trong Phật pháp, kẻ khởi ngã kiến như núi Tu Di còn có Thể phát tâm Vô Thượng Chánh Ðẳng Chánh Giác mà sinh trong Phật pháp. Cho nên phải biết tất cả phiền não là giống Như Lai. Ví như không xuống bể cả, không thể đặng bảo châu vô giá, cũng như không vào biển cả phiền não thời làm sao mà có ngọc báu “nhứt thiết trí”.

Lúc bấy giờ Ngài Ðại Ca Diếp khen rằng :
– Hay thay ! Hay thay ! Ngài Văn Thù Sư Lợi, lời nói thích quá. Thật đúng như lời Ngài nói những bọn trần lao là giống Như Lai. Hôm nay, chúng tôi không còn kham phát tâm Vô Thượng Chánh Ðẳng Chánh Giác. Ðến như người đủ 5 tội vô gián còn có thể phát ý mong sanh trong Phật pháp, mà nay chúng tôi hoàn toàn không phát được. Ví như những người 5 căn(10) đã hư, đối với 5 món dục lạc chẳng còn cảm xúc. Cũng như hàng Thanh Văn đã đoạn hết kiết sử, ở trong Phật pháp không còn có lợi ích gì mấy, bởi không còn có chí nguyện.

Thưa Ngài Văn Thù Sư Lợi ! Vì thế nên phàm phu ở trong Phật pháp còn có ảnh hưởng, mà hàng Thanh Văn thời không. Vì sao ? Vì phàm phu nghe Phật nói pháp khởi được đạo tâm vô thượng, chẳng đoạn Tam bảo, còn chính như Thanh Văn trọn đời nghe Phật pháp : 10 lực, 4 món vô úy v.v. . . mà hoàn toàn cũng không phát được đạo tâm vô thượng.

Trong chúng hội có Bồ Tát tên Phổ Hiện Sắc Thân hỏi ông Duy Ma Cật rằng :
– Cư sĩ ! Cha mẹ , vợ con, thân bằng quyến thuộc, những người tri thức là ai ? Tôi tớ, trai bạn, voi ngựa, xe cộ ở đâu ?

Ông Duy Ma Cật dùng bài kệ đáp rằng :

Trí độ(11) mẹ Bồ Tát,
Phương tiện ấy là cha,
Ðạo sư tất cả chúng,
Ðều do đấy sanh ra.
Pháp hỷ(12) Chính là vợ,
Tâm từ bi là gái,
Tâm thành thực là trai,
Rốt ráo vắng lặng : nhà.
Trần lao(13) là đệ tử,
Tùy ý mà sai sử,
Ðạo phẩm (14) vốn bạn lành .
Do đấy thành chánh giác.
Các độ(15) là pháp lữ,
Tứ nhiếp là kỹ nữ.
Ca ngâm tụng lời pháp,
Lấy đó làm âm nhạc,
Vườn tược ấy tổng trì(16),
Cây rừng, pháp vô lậu,
Hoa, giác ý(17) sạch mầu,
Trái, giải thoát trí tuệ.
Bát giải (thoát)(18) là ao tắm,
Nước định lặng trong đầy,
Rải bảy thứ tịnh hoa(19),
Ðể tắm người không nhơ.
Ngũ thông (20), voi, ngựa chạy,
Ðại thừa là xe cộ,
Cầm cương là nhất tâm,
Dạo chơi đường bát chánh(21).
Tướng đủ nghiêm mặt mày,
Các tốt trau hình dáng,
Hổ thẹn làm thượng phục(22),
Thâm tâm làm tràng hoa.
Giàu có bảy của báu(23)
Dạy bảo để thêm lợi,
Như lời nói tu hành,
Hồi hướng làm lợi lớn.
Tứ thiền làm giường ghế,
Từ tịnh mạng sanh ra,
Học rộng thêm trí tuệ,
Ðó là tiếng tự giác.
Món ăn : pháp cam lồ,
Nước uống : vị giải thoát,
Tắm rửa sạch tịnh tâm,
Hương thoa là giới phẩm.
Trừ dẹp giặc phiền não,
Mạnh mẽ không ai hơn,
Hàng phục bốn thứ ma(24)
Phướng tốt dựng đạo tràng.
Tuy biết không sanh diệt,
Vì dạy chúng, có sanh,
Khắp hiện vào các cõi,
Như mặt nhựt, đều thấy.
Cúng dường khắp mười phương,
Không lường ức Như Lai,
Chư Phật và thân mình,
Không có tưởng phân biệt.
Dầu biết các cõi Phật,
Với chúng sanh đều không,
Mà thường tu Tịnh độ,
Dạy dỗ cho quần sanh.
Bao nhiêu loài hữu tình,
Oai nghi cùng hình, tiếng,
Bồ Tát lực, vô úy,
Ðồng thời đều khắp hiện.
Rõ biết các việc ma,
Mà hiện theo hạnh nó.
Dùng trí phương tiện khéo,
Tùy ý đều hay hiện,
Hoặc hiện già, bịnh, chết,
Thành tựu cho chúng sanh.
Rõ biết như huyễn hóa,
Thông suốt không ngăn ngại.
Hoặc hiện kiếp cháy tan,
Ðại địa đều trống rỗng,
Những người có tưởng “thường”,
Soi thấy rõ vô thường.
Vô số ức chúng sanh,
Ðều đến thỉnh Bồ Tát,
Ðồng thời đến nhà kia,
Dạy cho về Phật đạo.
Kinh sách, cấm, chú thuật.
Các nghề nghiệp khéo léo,
Ðều hiện làm việc ấy,
Lợi ích cho quần sanh.
Các đạo pháp thế gian,
Nương đấy mà xuất gia,
Ðể giải mê cho người,
Mà chẳng đọa tà kiến
Làm Nhựt, Nguyệt thiên tử,
Làm Phạm Vương, chủ, chúa,
Hoặc khi làm đất nước,
Hoặc lại làm gió lửa.
Vào kiếp có tật dịch,
Hiện làm các cây thuốc,
Nếu người nào uống đến,
Các bịnh ác tiêu trừ.
Vào kiếp có đói khát,
Hiện làm đồ uống ăn,
Trước là cứu đói khát,
Sau giảng dạy chính pháp.
Vào kiếp có đao binh,
Duyên khởi lòng từ bi,
Giáo hóa cho chúng sanh,
Tâm đừng còn tranh đấu.
Nếu có chiến trận lớn,
Làm cho sức ngang nhau,
Bồ Tát hiện oai thể,
Hàng phục để yên hòa.
Trong tất cả cõi nước,
Chỗ nào có địa ngục,
Ði ngay đến nơi đấy,
Cứu vớt người khổ não.
Trong tất cả cõi nước,
Súc sanh ăn lẫn nhau,
Ðều hiện sanh ra nó,
Làm cho được lợi ích.
Thị hiện trong ngũ dục,
Lại cũng hiện tu thiền,
Ðể tâm ma rối loạn,
Không thừa dịp hại đặng.
Hoa sen sanh trong lửa,
Thật đáng gọi ít có,
Cõi Dục mà tu thiền,
Ít có cũng như thế.
Hoặc hiện làm dâm nữ,
Dắt dẫn kẻ háo sắc,
Trước lấy dục dụ người,
Sau khiến vào trí Phật.
Hoặc làm chủ trong ấp,
Hoặc làm thầy khách buôn,
Quốc sư và Ðại thần,
Ðể lợi ích chúng sanh.
Các chỗ có kẻ nghèo,
Hiện làm kho vô tận,
Nhân đó khuyến dạy người,
Cho phát tâm vô thượng.
Kẻ kiêu căng ngã mạn,
Hiện làm những lực sĩ,
Tiêu phục lòng cống cao,
Quay về đạo Vô thượng.
Những người hay sợ sệt,
Ðến nơi để an ủi,
Trước thí pháp “không sợ”,
Sau dạy phát đạo tâm.
Hoặc hiện lìa dâm dục,
Làm vị tiên ngũ thông,
Chỉ dạy cho chúng sanh,
Ðể được giới, nhẫn, từ.
Thấy người cần hầu hạ,
Hiện làm kẻ tôi tớ,
Vừa đẹp ý người kia,
Vừa phát được đạo tâm.
Tùy theo việc cần dùng,
Mà vào trong Phật đạo,
Dùng sức phương tiện khéo,
Ðều giúp cho đầy đủ.
Ðạo pháp nhiều không lường,
Việc làm không bờ mé,
Trí tuệ không hạng lượng,
Ðộ thoát vô số chúng.
Dầu cho tất cả Phật,
Trong vô số ức kiếp,
Khen ngợi công đức kia,
Cũng không thể hết được.
Ai nghe pháp như thế,
Chẳng phát tâm Bồ Ðề,
Trừ những người bất tiếu,
Ngu si không trí tuệ.

Chú thích của phẩm VIII

1. Phật đạo : Tiếng Phạn là Phật đà Bồ đề, nghĩa là đạo giác ngộ như thật. Lại chỉ tất cả cáe điều phước huệ thanh tịnh thuần thiện của Phật đã thành tựu viên mãn, đều gọi là Phật đạo.

2. Phi đạo : Chẳng phải Phật đạo, nghĩa là những phiền não tạp nhiễm, tập nghiệp của tất cả chúng sanh trong ba cõi, ba đời và đạo pháp của Nhị thừa đều chẳng phải Phật đạo. Nhưng nếu thông đạt Phật đạo thì phi đạo toàn là Phật đạo. Tỷ như thật hành các việc trong đời, mà không sa mắc vào đời, cho đến thật hành hiện nhập Niết Bàn của Nhị thừa, mà chẳng dứt sự sanh tử, độ sanh. Ðó là ở nơi phi đạo mà tự tại siêu xuất phi đạo, nên tức nơi phi đạo mà thông đạt Phật đạo.

3. Năm tội vô gián : 1) Giết cha, 2) Giết mẹ, 3) Giết A La Hán, 4) Phá hòa hiệp của chúng Tăng, 5) Làm cho thân Phật ra máu. Người tạo ra năm tội này, phải đọa vào đia ngục Vô gián (A tỳ), chịu các sự khổ bức, không khi nào hở dứt, nên gọi là Vô gián.

4. Như cầu, đò : ý nói rất khiêm nhượng hạ mình, nghĩa là dù bị ngườl đời lấn lướt khinh khi, nhưng vẫn nhẫn chịu không khinh mạn lại, cũng như cầu đò cứ chịu họ dày đạp qua lại.

5. Tà tế, Chánh tế : Ngoại đạo gọi là tà tế, ví như chỗ hiểm nạn dối gạt người. Phật đạo gọi là chánh tế, ví như chỗ bến đò có thể đưa người qua được.

6. Bốn món điên đảo :
1) Sự vật trong thế gian là vô thường mà chấp là thường,
2) Ngũ dục lạc, không phải vui mà chấp là vui,
3) Thân này không phải ta mà chấp là ta,
4) Thân này nhơ nhớp mà chấp là sạch.
Ðây là 4 món chấp của phàm phu.

7. Bảy chỗ thức :
1) Sơ thiền,
2) Nhị thiền,
3) Tam thiền,
4) Tứ thiền.
5) Vô biên xứ thiền,
6) Thức biên xứ thiền,
7) Vô sở hữu xứ thiền,
là bảy cảnh giới không có thống khổ bức não, thần thức được an trú. Trừ cõi Vô tưởng và cõi Phi phi tưởng không kể, là vì cõi này tâm tưởng quá vi tế, muội lược, tư niệm không rõ ràng.

8. Tám pháp tà : Ðã giải ở phẩm III số 14.

9. Chín món não :
Về quá khứ ai quấy nhiễu mình, quấy nhiễu thân thích mình, thì sanh não, ai khen ngợi kẻ oán của mình, mình cũng sanh não. Quá khứ như thế thì hiện tại và vị lai cũng thế, nên gọi là chín chỗ não.

10. Năm căn : Mắt, tai, mũi, lưỡi, thân.

11. Trí độ :
Một độ trong 6 độ, nghĩa là trí tuệ viên mãn hay vượt qua biển sanh tử đến bờ Niết bàn rốt ráo.

12. Pháp hỷ : Nghe pháp lãnh hội được, sanh lòng vui mừng gọi là pháp hỷ.

13. Trần lao : Trần là nhiễm ô, nghĩa là các thứ tà kiến phiền não hay làm nhiễm ô chơn tánh. Lao là nhọc nhằn, nghĩa là các tà kiến phiền não làm cho chúng sanh trôi lăn mệt nhọc trong đường sanh tử.

14. Ðạo phẩm : Tức phương pháp giúp người tu hành, thành tựu đạo quả Bồ đề, như 37 phẩm trợ đạo v v

15. Các độ : 6 độ, 10 độ.

16. Tổng trì : Gồm nhiếp các pháp.

17. Giác ý : ý niệm giác sát cho tâm điều hòa thích trung, không cao không thấp, không phóng tán, không hôn trầm.

18. Bát giải : Tức Bát giải thoát đã giải ở phẩm III số 14.

19. Bảy thứ tịnh hoa :
1) Giới tịnh : động tác của thân, khẩu ý thanh tịnh;
2) Tâm tịnh : tâm thanh tịnh không còn nhiễm trước;
3) Kiến tịnh : thấy được chơn tánh các pháp không còn khởi vọng chấp;
4) Ðộ nghi tịnh : Hiểu biết thấu đáo không còn ngờ vực;
5) Phân biệt đạo tịnh : Phân biệt rõ ràng tà đạo, chánh đạo;
6) Hành đoạn tri kiến tịnh : Tri kiến thật, hành thiện pháp, các ác pháp bị đoạn trừ, được thanh tịnh sáng suốt;
7) Niết Bàn tịnh : Chứng được Niết Bàn xa lìa mọi cấu nhiễm.

20. Ngũ thông : Lục thông trừ Lậu tận thông. Ðã giải nơi phẩm II số 24.

21. Bát chánh : Giải ở phẩm II số 26 trong mục 37 phẩm trợ đạo phần sau.

22. Thượng phục : Ðồ y phục quí đẹp. Ðoạn này, ý nól lấy sự hổ thẹn để ngăn ngừa lỗi quấy, cũng như đồ y phục che được gió lạnh vậy.

23. Bảy của báu :
1) Tín, 2) Giới, 3) Văn, 4)Xả, 5)Tuệ, 6) Tàm, 7) Quý.
Do tin pháp lành nên mới giữ giới. Do giữ giới thì ngăn được các việc ác, việc ác đã dứt, việc lành mới tinh tấn làm thêm. Nhưng tinh tấn làm việc lành cốt do sự học rộng nghe nhiều. Có nghe nhiều đạo pháp, thì tâm niệm mới xả bỏ không còn chấp trước: Do xả bỏ nên trí tuệ phát sanh. Còn tàm và quý cũng như hai người phụ lực để thành tựu 5 pháp trên.
24. Bốn thứ ma :
1) Phiền não ma : tham. sân, si v .v. . . hay làm não hại thân tâm.
2) Ấm ma : sắc, thọ, tưởng, hành, thức, 5 ấm đó thường sanh các thứ khổ não.
3) Tử ma : chết hay đoạn tuyệt mạng căn của người.
4) Thiên ma : Ma Vương ở trên từng trời Tha hóa tự tại thứ 6 của Dục giới, hay làm hại mất việc phúc thiện của người đời.

| Mục lục | Trang sau |

Trả lời

Thư điện tử của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *

*
*

Chuyên mục