Home » Đạo & Đời » Liễu Phàm Tứ Huấn – Phương Pháp Tu Phúc-Tích Đức Cải Tạo Vận Mệnh

Liễu Phàm Tứ Huấn – Phương Pháp Tu Phúc-Tích Đức Cải Tạo Vận Mệnh

Liễu Phàm Tứ Huấn
Hay Phương Pháp Tu Phúc-Tích Đức Cải Tạo Vận Mệnh

Dịch Giả: Tuệ Châu, Bùi Dư Long

Mục Lục:

Thay Lời Tựa

Số mệnh, con người ta ai cũng có. Tại sao lại có số, Phật gia lấy việc tạo nghiệp và luật nhân quả báo ứng, nhân nào quả ấy, như trồng dưa thì được dưa, trồng đậu thì được đậu, không lẽ trồng dưa hái đậu, và làm lành gặp lành, làm ác gặp ác, để mà giải thích. Từ những tiền kiếp xa xôi, ta gieo nhân thiện thì nay được phúc, được hưởng quả lành, sống lâu giàu bền, thông minh sáng suốt, công danh sự nghiệp hiển hách. Trái lại, nếu đã trồng nhân ác thì bị quả báo, nghèo hèn khổ sở, ốm đau tật nguyền, đần độn ngu si, sống chẳng đủ ăn. Nhà Phật có câu nói: Dục tri tiền thề nhân, kim sinh thụ giả thị; chỉ cần xem việc thụ hưởng hiện nay là biết được cái nhân của đời trước…

Người xưa có nói: Nhất ẩm, nhất trác giai do tiền định, đã có thì ngay những việc ăn uống xãy ra hàng ngày cũng đều được định sẵn cả rồi.

Vẻ chi ăn uống sự thường,
Cũng còn tiền đinh khá thương lọ là
(Cung Oán Ngâm Khúc)

Người tin vào số mệnh thường cho là việc gì đến nó sẽ đến để tự an ủi mình khi gặp phải cảnh ngộ ngang trái không may thì nghĩ rằng số mệnh số phận đã như vậy đành chịu vậy. Nhưng số mệnh đâu có phải nhất định như thế mãi đối với ta. Đã có biết bao người tiền bạc như nước mà một sớm, một chiều hóa ra trắng tay, ngược lại nhiều người nghèo bỗng nhiên lại trở thành triệu phú, bởi lẽ giàu có mà lại làm nhiều điều ác thất đức, còn nghèo khó lại biết xả thân hành thiện, cứu giúp người, nên số được biến đổi, vì làm lành gặp lành, làm ác gặp ác. Do đó ta thấy rằng mệnh số là ở nơi tay ta và tự sửa, thay đổi được. Tố Nư tiên sinh đã từng phát biểu: Xưa nay nhân định thắng thiên cũng nhiều.

Đây cũng là trường hợp của tác giả cuốn Liễu Phàm Tứ Huấn.

Dịch Giả: Tuệ Châu, Bùi Dư Long

Tác giả họ Hoàng tên Khôn Nghi, người huyện Ngô Giang, tỉnh Giang Tô, đỗ tiến sĩ vào hiệu Vạn Lịch thứ 14, đời nhà Minh. Nguyên lai số không có con, khoa bảng đề danh không được cao, và chỉ sống tới năm 53 tuổi; vì biết định mệnh đã an bài như thế nên cứ điềm nhiên an phận thủ thường không cầu cạnh gì. Nhưng tới sau gặp được thiền sư Vân Cốc chỉ cho cách biến đổi số mệnh, nên cầu được sinh con năm 74 tuổi. Tác giả đem cái kinh nghiệm quý báu của đời mình soạn thành bốn bài gia huấn để lưu truyền đời sau, gọi là Liễu Phàm Tứ Huấn. Sở dĩ lấy tên hiệu là Liễu Phàm vì tác giả muốn dứt khoát bỏ hẳn cái lớp vỏ phàm phu ở đời để tu thân thành một người mới, với vận mệnh mới. Bốn bài gia huấn trong Liễu Phàm Tứ Huấn là những lời của người cha chỉ dạy cho con cháu trong nhà về vấn đề tu thân, đường lối cư xử với người đời sao cho có đạo đức, có nhân nghĩa, có lòng tương thân tương trợ, quý mến lẫn nhau. Sách này lẽ ra chỉ lưu truyền riêng trong gia đình của tác giả, nhưng vì những lời chỉ dạy rất thiết thực, rất hữu ích nên khi được truyền ra ngoài xã hội, sách được phồ biến sâu rộng. Cư sĩ Chu Quần Tranh, người Ôn Châu phát tâm ấn tống hàng trăm ngàn cuốn. Ấn Quang đại sư, người được tôn vinh là vị tổ cận đại của Tịnh Độ tông ở Trung Quốc đã hoan hỷ đề tựa, và chỉ dạy cho người muốn tu học theo cuốn sách đó cần phải hai chữ Thành và Minh thì việc học mới được tinh tiến, bởi có thành thật thì mơi kiểm điểm được hết cách lỗi lầm của mình mà tu sửa, có sáng suốt mới biết chọn lựa các việc thiện mà làm. Hiện nay ở Đài Loan có nhiều cơ quan đã ấn tống cả hàng chục triệu cuốn Liễu Phàm Tứ Huấn đem phát hành. Ở Việt Nam, chúng, chúng ta có cuốn gia huấn ca do Nguyễn Trãi tiên sinh (1380-1442) soạn trước cuốn Liễu Phàm Tứ Huấn cả nửa thế kỷ nhưng tiếc rằng không được lưu thông rộng rãi như cuốn Liễu Phàm Tứ Huấn.

Nền giáo dục ngày nay đã quá suy đồi, bởi ở học đường bỏ không dạy môn luân lý đạo đức nữa, mà chỉ cần đào tạo nhiều chuyên viên về khoa học kỹ thuật nên những người lãnh đạo các cơ quan chính phủ hay các đại công ty thường không có lương tâm đạo đức, toa rập với kẻ gian ác, làm nhiều điều mờ ám thất đức, như gian lận sổ sách, buôn lậu, dối trá lừa đảo, để kiếm tiền tạo dựng tài sản cho riêng mình. Thượng bất chính, hạ tắc loạn, người trên đã không ra người thì sao trách được bọn học sinh mới lớn lên làm đảo lộn trật tự chốn học đường với những vụ bắn bạn, giết thầy, hay đặt bom nổ chết hàng chục mạng các bạn đồng học. Hơn nữa, hàng ngày ti vi còn loan truyền nhiều tin tức rùng rợn, khủng khiếp càng làm cho chúng tiêm nhiễm thêm những thói hư tật xấu.

Đường lối giáo dục hiện nay trước sau rồi cũng cần phải cải tổ, nên những bài gia huấn, những sách dạy về tu thân, về luân thường đạo đức phải được phổ biến sâu rộng. Với ý nghĩ đó, người dịch không tự lượng sức mình tài sơ trí thiển, vốn hán văn còn thiền cận, chữ tác đánh chữ tộ, chữ ngộ đọc ra chữ quá, mà dám mạo muội đem cuốn Liễu Phàm Tứ Huấn với lời văn uyên bác, súc tích, chuyển ngữ ra tiếng việt là vì đã có duyên may được đọc cuốn Liễu Phàm Bạch Thoại Giải Thích của Hoàng Trí Hải tiên sinh diễn thuật và cuốn Liễu Phàm Tứ Huấn Giảng Ký của Tịnh không pháp sư nên cũng hiểu được ít nhiều để mà dịch, nhưng tự biết rằng còn nhiều chỗ sai lầm phản ý lại của tác giả, vì dịch là phản theo như cách ngôn Pháp nói: Traduire c’est trahir; nên kính mong chư quý vị thức giả niệm tình lượng thứ và hoan hỷ phủ chính cho thì thực vạn hạnh, vạn hạnh.

Dịch giả cẩn chí Bùi Dư Long

Lời Tri Ân

Dịch giả chân thành tri ân:

Hội Phật Đà Giáo Dục Cơ Kim (The Corporation Body of the Buddha Education Foundation) ở Đài Loan đã gởi cho các cuốn Liễu Phàm Bạch Thoại Giải Thích, Liễu Phàm Tứ Huấn Giảng Ký cùng các băng giảng.

Tu sĩ Tuệ Năng đã gián tiếp khuyến khích và gợi niềm hứng khởi về việc dịch sách khi nhờ chuyển âm Hán Việt một cuốn kinh sách của Long Thụ Bồ Tát.

Quy tắc tu học – Lời Khai Thị của Ấn Quang Đại Sư

Bất luận là người tu tại gia hay xuất gia, cần phải trên kính dưới hòa, nhẫn nhục điều người khác khó nhẫn được, làm những việc mà người khác khó làm được, thay người làm những việc cực nhọc, thành toàn cho người là việc tốt đẹp.

Khi tĩnh tọa thường nghĩ đến điều lỗi của mình. Lúc nhàn đàm đừng bàn đến điều sai trái của người. Lúc đi, đứng, nằm, ngồi, ăn, mặc, từ sáng đến tối, từ tối đến sáng, chỉ niệm Phật hiệu không gián đoạn, hoặc niệm nho nhỏ, hoặc niệm thầm.

Ngoài việc niệm Phật, đừng dấy khởi một niệm nào khác. Nếu khởi vọng niệm, phải tức thời bỏ ngay. Thường có lòng hổ thẹn và tâm sám hối. Nếu đã tu trì, phải tự hiểu là công phu của ta hãy còn nông cạn, chẳng nên tự kiêu căng, khoa trương, chỉ nên chăm sóc việc nhà mình mà đừng nên dính vào việc nhà người. Chỉ nên nhìn đến những hình dáng tốt đẹp mà đừng để mắt tới hình dạng xấu xa bại hoại. Hãy coi mọi người là Bồ Tát, mà ta chỉ là kẻ phàm phu.

Nếu quả có thể tu hành được như những điều kể trên, thì nhất định được sinh về Tây Phương Cực Lạc Thế Giới.

Cư sĩ Bùi Dư Long dịch

| Trang sau / Chương 1 |

—————————————————–—-
Đọc thêm:

Trả lời

Thư điện tử của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *

*
*

Chuyên mục