Home » Học Thiền » Kinh nghiệm đời tu thiền sư Thánh Nghiêm

Kinh nghiệm đời tu thiền sư Thánh Nghiêm

(trích từ Thánh Nghiêm Tự Truyện do Hạnh Đoan dịch
Bản tiếng Anh: Footprints in the snow, tác giả Kenneth Wapner
Bản tiếng Hán: Tuyết Trung Túc Tích)

Bậc chân tu giác ngộ hoằng dương chánh pháp như ngọn đuốc lớn truyền ánh sáng cho vô số các ngọn đuốc nhỏ khác. Trong thế giới hiện đại ngày nay, có được một người như thế quả là điều hiếm có, nhưng một khi bậc đại sư xuất hiện thì chính cuộc đời của ngài là những lời pháp thấm thía nhất. Những gì truyền lại từ Thiền sư Thánh Nghiêm đáng để cho ta suy ngẫm và tán thán cho thái độ sống ung dung tự tại của ngài giữa tất cả mọi hoàn cảnh – đó là sự giải thoát đúng nghĩa, chẳng phải tìm cầu ở một cảnh giới xa xôi nào – bởi vì “nhất thiết do tâm tạo”, tất cả đều từ do tâm mà ra.

Sau đây là một số kinh nghiệm của ngài trong cuộc đời hoằng pháp, trích đoạn từ quyển “Thánh Nghiêm Tự Truyện” do Hạnh Đoan trích dịch.

 

thanh nghiemKinh nghiệm tín ngưỡng

Đối với tôi, tu thiền và tín ngưỡng tôn giáo quả có khác biệt. Tín ngưỡng tôn giáo là một phần hết sức quan trọng trong cuộc đời tôi. Tôi có được thể nghiệm tôn giáo là bắt nguồn từ tín ngưỡng. Khi tôi gặp hoạn nạn vây bủa, tôi sẽ niệm danh hiệu Quan Thế Âm Bồ Tát. Lúc ở trong quân đội, tôi luôn niệm danh Ngài.

Khi xin tham dự khoá thi sĩ quan, tôi chỉ có trình độ tương đương trung học, trong khi những thí sinh khác đều tốt nghiệp đại học. Nhưng tôi tin đức Quan Thế Âm và khẩn thiết cầu ngài gia hộ. Kết quả, đề thi đưa ra trúng “tủ”; đều là nhưng bài tôi từng học qua. Đúng luật, thì tôi chẳng có đủ tiêu chuẩn để tham dự cuộc thi, thế mà tôi vẫn được thu nhận, được cho vào thi. Bởi vậy tôi rất tin là bồ tát Quan Thế Âm giúp đỡ cho tôi.

Trong quân đội, muốn xin thoái ngũ cơ hồ là một việc không thể, bởi tôi làm công tác tình báo vô tuyến điện tín. Là trinh sát, phải nắm bắt nhậy bén, thu thập tin tức cơ mật. Nhưng nhờ tôi trì niệm danh hiệu Quan Thế Âm bồ tát, cuối cùng cũng được trả tự do.

Khi tôi muốn bế quan tĩnh tu, nhiều trưởng lão cảnh báo, nói tôi là người mới thoái ngũ trở về, muốn kiếm được chỗ bế quan rất khó. Nhưng tôi tin Đức Quan Âm, trì niệm Ngài, kết quả: có tới hai, ba chỗ cho tôi chọn lựa. Tôi có rất nhiều thể nghiệm tôn giáo tương tự như thế!

Đến nay, tôi vẫn một mực tin sâu rằng, bất kể gặp phải khổn nạn gì, chỉ cần tôi trì tụng danh hiệu Quan Thế Âm bồ tát, thì vấn đề đều có thể giải quyết dễ dàng. Đây là lý do vì sao tôi từng chẳng lo lắng. Người có niềm tin tôn giáo kiên cường, thông thường đều sở hữu được cảm giác an toàn như thế và sẽ có đủ sức mạnh ý chí, dũng khí và niềm tin để đối diện với bất kỳ tình huống nào.

Kinh nghiệm thiền tọa

Còn tu, thể nghiệm tôn giáo theo Thiền tông, có những điểm khác biệt là: giúp ta an định tâm tính, đề thăng nhân cách. Trong trạng thái thiền tọa thâm sâu, tôi cảm thọ mình cùng vũ trụ đồng một thể, đây chính là chỗ thiền tông nói: “Thống nhất tâm”. Nghĩa là trung tâm tự ngã tiêu mất, nhưng vũ trụ đại ngã vẫn tồn tại. Tâm lượng lúc này rất phi thường rộng lớn – Tọa thiền khi đạt đến cảnh giới tối cao, bạn sẽ có cảm thọ hợp nhất cùng Thượng đế. Nhưng thường thì chúng ta chỉ có thể đạt đến kinh nghiệm tối đa là hợp nhất cùng hoàn cảnh chung quanh. Tôi thường trải qua nhiều thể nghiệm này.

Trong lúc tọa thiền, có thể sẽ xuất hiện nhiều huyễn cảnh, nhưng tốt nhất là chẳng nên chú ý đến nó. Có một buổi tối, tôi đang bế quan, bỗng nghe tiếng cuồng phong mưa bão, nhưng lúc đó trời đang rất quang tạnh và trăng sáng vằng vặc. Khi tôi ra ngoài xem thử, thì thấy thiên không vẫn trong trẻo.

Còn có một lần tôi đang ngồi, thì cảm thấy thân thể nâng lên, trụ lửng lơ trên bồ đoàn, đây không phải là ảo giác, mà rõ ràng đang xẩy ra thực sự. Tôi cảm thấy quá đỗi kinh ngạc và nghi hoặc. “Làm sao lại có thể như thế được?”… Khi tâm tôi dấy động rồi, tôi liền từ từ hạ xuống, ngồi ở trên bồ đoàn như cũ. Những việc này đều xẩy ra trong lúc tôi bế quan tọa thiền.

Những thể nghiệm trong lúc tọa thiền, bất kể nhiều bao nhiêu, thường khiến người ta vọng hướng, nhưng chúng hoàn toàn chẳng phải là kinh nghiệm khai ngộ, không giống khai ngộ kiến tánh. Tọa thiền không phải là để người ta thấy được (kiến đáo) tự tánh, và thể nghiệm tôn giáo cũng không phải là khai ngộ!

Kiến tánh, là thấy được tính Không; mà chẳng phải đạt đến trạng thái hợp nhất. Kiến tánh không có bất kỳ chấp trước nào. Nhiều người cho rằng những kinh nghiệm thần bí bất khả tư nghì và khai ngộ đồng nhau, thực tế không phải vậy! Những kinh nghiệm thần bí đương nhiên có thể phát sinh qua việc tọa thiền hay thể nghiệm tôn giáo, nhưng không phải là khai ngộ!

Khả năng nhậy bén

Tôi cũng phát hiện, tôi đối sự vật chung quanh, mức độ mẫn cảm gia tăng rất nhiều, trực giác cũng cực kỳ nhậy bén. Trong lúc tôi cùng người đàm luận, tôi có thể quan sát thấu đáo. Khi ai đó đến thăm tôi, cho dù họ không có hẹn hay nói trước với tôi, tôi cũng dự biết và cảm nhận họ đang đi trên đường. Hoặc sau khi tôi nghĩ đến họ vài ba lần rồi, thì họ xuất hiện. Lúc tôi hỏi họ: Vì sao đến? Thì họ nói: “Tôi không biết, chỉ là nghĩ muốn gặp thầy.” Hoặc: “Tôi nằm mơ thấy thầy, cho nên muốn gặp thầy.”

Khi sư phụ tôi muốn tôi xả thất rời cốc, tôi cũng linh cảm được. Quả nhiên hai ngày sau tôi nhận được thư ông thúc tôi: “Đã đến lúc nên xuất quan!”… Sau này khi sư phụ viên tịch, tôi cũng cảm biết được, cho dù lúc đó tôi đang ở Mỹ quốc cách xa mấy ngàn dặm.

Tôi không phải là kẻ duy nhất có trực giác nhậy bén này. Người con cũng có lúc cảm nhận mẫu thân đang nhớ đến mình, nên điện thoại về nhà thăm. Người tu rất dễ phát triển trực giác nhậy bén. Tôi không nói đến thần thông, người sở hữu thần thông có thể tuỳ thời nghe hoặc nhìn thấy những gì họ nghĩ và lưu tâm đến. Thiền tông có khuynh hướng tránh thần thông, cũng không hề bàn đến nó. Lại càng không khuyến khích người khác tu luyện hay phát triển năng lực huyền bí này.

Thần thông xem ra có vẻ rất hữu dụng, nhưng cho dù bạn biết hay không biết rõ việc của người khác, bạn có thể giúp họ cải thiện đời sống chăng? Luật cân bằng giữa vũ trụ là do nhiều nhân tố vận hành liên quan gắn bó, cho dù bạn có thể vận dụng thần thông hòng tránh khỏi vài việc không tốt, thì bất quá cũng chỉ là kéo dài, để nó phát sinh chậm mà thôi. Phật giáo quy định rất nghiêm, không cho tu sĩ hiển hiện hoặc sử dụng thần thông. Bản thân tôi cũng chẳng muốn có các năng lực như thế.

Đời sống phiêu bạt

Khi tôi đã sắp xếp, an bài và thực hiện tốt những gì Đông Sơ lão nhân sư phụ tôi từng ký thác, đưa mọi việc vào nền nếp xong, thì Trầm cư sĩ mời tôi sang Nữu Ước hoằng pháp. Thế nhưng lần này qua Mỹ tôi không thể hồi phục chức mình từng đảm nhiệm trước đây. Do các sư nữ đã ở trong Đại Giác Tự, không còn phòng nào cho tôi trú ngụ. Tôi đành ở tạm tại Bồ Đề Tịnh Xá, biệt thự tĩnh tu của Trầm cư sĩ ở Trường Đảo (Long Island). Tôi phải đi đi lại lại giữa Trường Đảo và Nữu Ước, nhưng nếu cứ qua lại như thế thì rất bất tiện, vì cách học sinh tôi quá xa, nên tôi có ý định ra đi. Trầm cư sĩ bảo: “Nếu thầy dời đi, tôi thật vô phương chăm sóc và giúp đỡ thầy!”

Tôi đáp: “Không hề gì, tôi thích rày đây mai đó!”

Sau khi ra đi, tôi không có tiền mướn phòng trọ, đành ngủ trước giáo đường hoặc trong công viên. Tôi từng cùng các môn sinh ở đây học cách làm sao sống qua ngày trên đường phố. Họ dạy tôi tìm và hưởng dụng những thức ăn như trái cây, bánh mì bị bỏ (song vẫn còn dùng được) ở phía sau thương điếm hoặc siêu thị, họ còn bầy cho tôi lãnh làm các việc vặt để kiếm chút tiền. Chẳng hạn như coi tiệm thay chủ, lo quét dọn hoặc trông chừng két tiền. Tôi phát hiện mình có thể đem hành lý tuỳ thân gởi tại “Quầy ký gởi vật dụng” nơi trạm xe Trung Anh. Tôi cũng có thể giặt y phục, tắm táp trong tiệm. Các môn sinh mách tôi đến quá nửa đêm, có thể ghé các quán bán thức ăn nhanh nghỉ ngơi và nhâm nhi tách cà phê.

Tôi sống lang thang trong thành phố, một tu sĩ mặc cà sa cũ, ngủ nhờ ngoài hiên, suốt đêm ở tại quán cà phê bầu bạn và nhập bọn cùng những người vô gia cư. Muốn lót dạ thì tìm thức ăn trong những đống trái cây hay rau quả mà người ta vứt bỏ. Lúc đó tôi đã ngoài 50 tuổi rồi, không còn trẻ nữa, nhưng hai vai gánh vác sứ mệnh đi bốn phương hoằng pháp, lòng tôi tràn đầy niềm vui và pháp hỷ sung mãn. Nên mấy cái chuyện cỏn con này có ăn nhằm gì đâu. Đông Sơ lão nhân từng huấn luyện tôi, khiến tôi quen cư trú tự tại, bất kể là ngụ trong phòng lớn hay phòng nhỏ (hay ngủ qua đêm ngoài cổng giáo đường), đối với tôi đều chẳng có gì khác biệt.

Nhiều người cảm thấy tội nghiệp tôi, còn tôi thì ngược lại, thấy mình chẳng có gì đáng thương và cũng không cho là vận số mình kém may. Cũng có nhiều người lo sợ, e là tôi sẽ đến tìm họ xin tiền hoặc van nài cầu xin giúp đỡ. Vì vậy tôi quyết định, tốt nhất không nên đến nhờ ai giúp, mặc dù tôi cũng tiếp nhận sự trợ giúp của các vị có lòng.

Tôi cảm thấy mình sống lang thang ngoài đường là việc tốt. Nhờ vậy mà tôi học được cách không ỷ lại vào bất kỳ ai, cũng chẳng bị ép buộc phải tìm đạo tràng, hoằng dương thiền pháp (Bồ tát trong lúc hoằng đạo chỉ mong chúng sinh được ly khổ), nên rất cần kham nhẫn và phải trải qua nhiều mài luyện gian nan. Khi tăng lữ Phật giáo Ấn độ đến Trung Quốc, Nho giáo và Lão giáo đang có ảnh hưởng rất mạnh. Lúc đó Nho giáo còn muốn khai trừ Phật giáo (nhất là những người xuất gia). Đức Phật Thích Ca tin rằng, nếu như có thể chịu đựng được bao mài luyện gian khổ, thì có thể khai phát cho người, và ảnh hưởng đến thiên hạ. Người ta thường hi vọng cuộc sống mình được an bình, không phiền não, nhưng hành giả tu theo Phật pháp thì khác: – Khi hoá độ người là phải chuẩn bị cam chịu thọ khổ, thọ nạn rồi.

 

Làm sao để nhẫn chịu khổ nạn? Mã Tổ Đại sư từng dạy chúng ta: “Cần phải giữ tâm bình thường.” Ngụ ý là: phải thường bảo trì tâm bình tĩnh, an ổn. Không duyên niệm theo hoàn cảnh chung quanh. Lúc thành công, không nên cho là ta làm thành, không nên quá hưng phấn hay tự kiêu, bởi thành công đó có được là nhờ nhiều nhân tố liên kết: người, việc, hoàn cảnh, thuận duyên … hỗ tương mà thành tựu. Nếu như muốn tiến hành một việc gì đó mà đều gặp chướng ngại khó thể thành tựu thì dễ sinh nản lòng muốn buông bỏ – gặp tình huống như vậy, tốt nhất là chẳng nên bi quan chán chường, phải hiểu là nhân duyên chưa đủ, đừng vội cho mình là một người thất bại – vì thất vọng chỉ đem lại thống khổ mà thôi.

Giữ gìn tâm bình thường là không phải cứ bất động buông xuôi hoặc đặt mình rơi vào trạng thái bị động, để cho vọng niệm mặc tình xỏ mũi dẫn dắt. Bạn vẫn phải sống hết lòng với trách nhiệm. Hòa thượng Hư Vân nói: “Không hoa Phật sự, thời thời phải làm; thủy nguyệt đạo tràng, xứ xứ phải xây.” Xin giải thích: những công tác này mặc dù là hư huyễn, nhưng chúng ta vẫn phải làm. Dù chúng sinh là hư huyễn, chúng ta vẫn phải hướng dẫn họ. Cho dẫu đạo tràng tu giống như bóng trăng đáy nước, không thật có, ta vẫn phải kiến lập đạo tràng và bắt buộc phải độ chúng sinh. Đây chính là trách nhiệm mà ta cần phải tận lực hoàn thành và không nên chấp vào thành bại. Chư Tổ sư Thiền tông dùng tâm bình thường ứng dụng trong mọi lúc, mọi sự, mọi sinh hoạt… Nếu không được như thế, thì chẳng phải là Thiền sư chân chính. Trong những tháng ngày lang thang, tôi nỗ lực bảo trì tâm bình thường và không hề biến mình thành kẻ lưu lãng. Tôi nhớ đến Đại sư Hàn Sơn trên núi Thiên Thai, ông lấy trời làm màn, lấy đất làm chiếu, lấy mây làm mền, đá làm gối, dùng suối để tắm. Nếu trong chùa có gạo có rau, thì cứ thế mà dùng. Còn nếu không có gì để ăn, thì ông lót lòng bằng rau cỏ, trái quả… Ông sống tự tại an nhiên, làm ra nhiều câu thơ rất ưu mỹ:

Độc ngọa trùng nham hạ
Chưng vân trú bất tiêu
Thất trung tuy ông ái
Tâm lý tuyệt huyên hiêu
Mộng khứ du kim khuyết
Hồn quy độ thạch kiều
Phao trừ náo ngã giả
Lịch lịch thụ gian biểu biểu

Tạm dịch:

Non cao đá dựng chập chùng
Mình ta đánh giấc thung dung giữa trời
Trên đầu mây ngủ quên trôi
Sương giăng mờ thất, tâm thôi rộn ràng
Mộng dạo chơi tận… cung vàng
Hồn về cầu đá, mơ màng… phiêu du
Ném phăng cái ngã khỏe ru
Như tiên ngụ giữa… hồ lô an nhàn!

Khi bạn không có bất kỳ cái gì, thì bạn tự do tự tại – một khi bạn có cái gì, ắt sẽ bị nó ràng buộc, trói cứng. Tôi cực kỳ hạnh phúc, chẳng hề cảm thấy là mình không có tương lai. Ngược lại , tôi còn cho rằng tương lai sẽ đem đến nhiều phong phú, lớn rộng nữa. Bởi tôi có các môn sinh, nên còn sứ mệnh phải hoàn thành. Chỉ là buổi tối, tôi chưa biết mình sẽ ngủ ở đâu mà thôi. Xem ra, so với việc không có trú xứ, không có tương lai, là một gã lang thang không có nhà để ở, tôi thật sự quá tốt rồi, nhưng tôi biết mình không thể sống lang bạt suốt đời.

Bây giờ, cuộc sống của tôi thật khác biệt – tôi quen biết nhiều lãnh tụ thế giới, có chức vụ và phát biểu, diễn thuyết trong Đại hội Hiệp Quốc. Đệ tử tôi có các nhân vật quan trọng trong chính quyền, tôi trở thành vị khách mời, được Trung quốc đại lục, Thái Lan… cực kỳ ưu ái đãi ngộ. Các tín đồ đối với tôi rất tôn kính. Người ta cho rằng, đối với tôi nếu không đãi ngộ như vậy thì không đúng. Thật sự là, nếu họ chẳng ưu ái thì cũng đâu có gì sai. Cho dù hôm nay tôi có nổi danh một thời, nhưng khi tôi không thể làm những việc như tôi đang làm thì tôi có thể bị lãng quên. Trong lịch sử có bao nhiêu người có thể lưu danh? Tiền tài cũng như quyền lực, thẩy đều là hư huyễn. Bởi vậy, người ta trong bất cứ tình huống nào cũng phải bảo trì tâm bình thường.

Tục ngữ nói: “Do giản nhập xa dị, do xa nhập giản nan” – từ giản dị vào xa hoa dễ, từ xa hoa tiến đến giản dị khó. Nếu không có được tâm bình thường, thì đúng là như thế! Còn nếu có được tâm bình thường, thì bất kỳ trong mọi tình huống, hoàn cảnh nào, bạn đều là người tự do tự tại!

Phương Pháp Dạy Thiền

Tu tập Thiền đã có lịch sử rất lâu dài tại Trung Quốc. Thời kỳ đầu, pháp thiền Trung Quốc nhấn mạnh việc tu hành, nhập định, dùng tâm khán tịnh. Hành giả cần viễn ly trần thế, nghĩa là trụ trên núi hay hang động, độc lập tu hành. Từ Tây lịch năm 580-651, thời Tứ Tổ Đạo Tính, mới bắt đầu phương thức tu hành đoàn thể, thậm chí có đoàn thể nhiều tới 500 người. Tín chúng không còn tu đơn độc nữa. Đến năm 638-713 Tây lịch, Lục tổ Huệ Năng lại cải tổ phương pháp tu, khi ngài nghe kinh Kim Cang đến câu: “Ưng vô sở trụ nhi sanh kỳ tâm” thì khai ngộ. Sau thời Ngài, việc tu hành thiền thay đổi uyển chuyển vô cùng. Ngài dạy phương pháp trứ danh là Tam Vô: vô niệm, vô tướng, vô trụ. Nếu như khéo thể nhận Tam Vô thì khai ngộ.

Từ đó về sau, Thiền sư bảo các đệ tử, nếu như có thể thời thời khắc khắc luyện tập thái độ tam vô, thì không cần học tập lý luận hoặc phương thức tu hành phức tạp nào nữa. Trong quá khứ, thông thường các Thiền sư ngoài việc trách mắng tật hôn trầm và giải đãi của các đệ tử ra, họ chẳng cho hướng dẫn chân chánh nào. Họ có thể vì răn đe chúng đệ tử mà nói: “Sinh mệnh vô thường, làm sao cả ngày hôn trầm, lãng phí thời gian?”

Sau này đến triều Tống xuất hiện Thiền sư Đại Huệ, ông là truyền nhân của Thiền sư Lâm Tế triều Đường, sáng lập ra pháp Thiền Thoại đầu, dạy hành giả tham các câu thoạt nghe có vẻ như không hợp lý và buồn cười, đại loại như: “Gì là Vô?”(Thập ma thị vô?) hoặc: “Gì là bản lai diện mục của ngươi?” (Thập ma thị nễ đích bản lai diện mục?) hoặc chỉ là một chữ “Vô”. Chủ yếu là mượn đây để chú tâm vào một vấn đề, nhằm bài trừ tạp niệm. Hành giả tâm chuyển biến đến khai hoát, thì càng liễu giải ý nghĩa Tam vô.

Cùng đồng thời đó, tông Tào Động chủ trương pháp thiền Mặc Chiếu, khiến người thấy thanh thoát, rõ ràng bản thân làm gì, dù công tác hay đi đường đều luôn bảo trì tính giác tri toàn nhiên, không một chút chấp trước tự ngã trung tâm. Sau này, tông Lâm Tế có ảnh hưởng mạnh mẽ hơn, vì có thuyết cho rằng phương pháp tu thiền Mặc Chiếu không chuẩn xác (do họ chưa thực sự hiểu pháp Thiền mặc chiếu của đại sư Hoành Trí Chánh Giác một cách chân chánh), nên đã cho rằng thiền Mặc Chiếu dạy an tâm như hang tối đen (Chí tâm như hắc động)… khiến tiếng tăm Mặc Chiếu bị mờ nhạt.

Tôi hướng dẫn cả hai phương pháp: Thiền thoại đầu và Thiền mặc chiếu; hơn nữa có cả truyền thừa Lâm Tế tông và Tào động tông. Tôi không cho cái nào là tối ưu nhất, chỉ tận lực làm y theo nguyên tác Hoành Tr í Chánh Giác Đại sư đã truyền lại, chấn hưng Thiền Mặc Chiếu.

Chúng đệ tử thông thường sẽ ở lại Thiền Đường hơn mấy năm (có người vừa nghe đến một câu thoại liền buông bỏ chấp trước trung tâm tự ngã, có người thậm chí khai ngộ tại Thiền Đường). Nhưng việc thể nghiệm khai ngộ đa số thường phát sinh ngoài thiền đường, khi họ nghe một âm vang, hoặc nhìn thấy một sự tình gì, đột nhiên phát khởi phản ứng mãnh liệt, nhân thế liền khai ngộ.

Tôi thường dùng các phương pháp khác nhau dạy chúng Tây phương tu thiền, sao cho phù hợp với đời sống cư sĩ tại gia. Cách tu này thích hợp với những người chỉ có thể ở trong chùa vài ngày. Tôi không tán đồng phương pháp thiền tu ngày xưa, cũng không bắt buộc họ phải có khả năng đạt được tam vô ngay lập tức. Trước tiên tôi dạy môn sinh đếm hơi thở, nó cũng được Phật giáo Tiểu thừa truyền và Tông Thiên Thai Trung Quốc sử dụng, cho dù chỉ là một số rất ít người.

Tại Mỹ, tôi đem quá trình tu tâm (đạt đến Tam Vô) phân thành ba giai đoạn: đầu tiên là Tập trung tâm, kế đến là Thống nhất tâm, cuối cùng là Vô Tâm. Muốn đạt đến Tập trung tâm, tất phải tu hành thiền định, khiến tâm tập trung sự chú ý vào một điểm. Thế nhưng tôi không thật sự dạy người nhập định. Tôi bảo họ: “Khi tâm niệm không còn bị động, là đạt đến Tập trung tâm rồi. Bước tiếp theo là Thống nhất tâm: trước tiên là cho thân và tâm thống nhất (tâm cầu thân dữ tâm thống nhất). Bạn không còn thấy thân thể là gánh nặng, mà phi thường thư thái, chẳng ngứa cũng chẳng đau, thân thể giống như bông gòn, không trọng lượng, tự do trôi nổi trong không khí. Sau đó bạn không còn cảm thấy thân thể tồn tại, thân tâm và cảnh thống nhất rồi. Bạn cũng không còn cảm thọ phân biệt về hoàn cảnh có chủ quan hay khách quan nữa, bạn cùng vũ trụ hợp nhất, không còn cảm thọ thời gian, không gian và cũng không có bất kỳ giai đoạn nào.

Giai đoạn cuối cùng là Vô Tâm, bạn không còn bám víu vào thân thể, thấy tâm và cảnh như chính mình. Bạn vẫn có thể giác tri tâm mình, thân và hoàn cảnh rõ ràng, nhưng không còn có tự ngã hiện diện trong đó. Có một câu chuyện liên quan đến Thiền:

“Trò hỏi: Trong trạng thái vô tâm, đếm không rõ hiện tượng diễn ra trước mắt thì phải làm sao? (Tại vô tâm đích trạng thái trung, số bất thanh đích hiện tượng tại nhãn tiền trình hiện thời, cai chẩm ma biện?)

Vị thầy đáp: Hồng không là trắng, lam chẳng phải đen, nhưng tất cả cùng ngươi là vô can.”

Đây chính là nói: Bạn có thể đối phó với vô số hiện tượng, nhưng cái ngã chủ quan cùng với những sự vật này tuyệt không có sự đối lập giữa chủ quan và khách quan. Đây là Vô Trụ Tâm. Việc mà bạn phải làm là, dùng tâm từ bi và trí tuệ, (nhưng không phải là dụng tâm có ý thức tự ngã). Một giai đoạn cuối cùng này rất khó giải thích, người không chứng ngộ khó thể hiểu rõ vì sao gọi là Vô Trụ Tâm.

Pháp Thiền

Phương pháp của tôi cùng phương pháp trong Thiền đường Trung Quốc áp dụng không giống nhau. Thiền đường Trung Quốc ngoại trừ thời gian thiền tọa mỗi cây hương, tiến đến kinh hành bước nhanh ra, không có vận động gì khác. Còn theo cách dạy thiền tu của tôi, trừ kinh hành bước nhanh ra, còn dung nạp kinh hành bước chậm (mạn bộ kinh hành) của Nam truyền. Tôi cũng dùng Yoga Ấn độ và Thái cực quyền cùng An quyền của Trung Quốc. Người Tây phương hầu như rất ưa kiểu dạy có nhiều thể loại và cả đến phương pháp nửa động nửa tĩnh như vậy, họ có phản hồi rất tốt.

Từ khởi đầu tại Lang Sơn (nơi ngài xuất gia), lễ Phật luôn là trọng tâm tu hành của chính bản thân mình, cho nên tôi cũng dạy học sinh bái Phật. Tôi suốt đời lễ Phật không biết đã bao nhiêu lần? Khó mà đếm hết! Nghi thức lễ lạy này là phương pháp tu hành cực kỳ có hiệu lực. Mặc dù chúng Tây phương lúc mới đầu tập lễ cảm thấy có chút ít khó khăn. Có người xem việc lễ bái trước Phật như là phương thức mài luyện cho tự ngã khiêm hạ, cũng có người lễ vì sùng bái Thánh thượng.

Quan niệm “Lễ Phật tiêu nghiệp chướng” đối với người Tây phương có vẻ thần bí, khó giải thích nên tôi nhấn mạnh lợi ích thực tiễn của việc bái Phật là : giúp tâm mình an định. Đối với người vô phương an tâm, tôi dạy họ chầm chậm lễ Phật, động tác lễ Phật ảnh hưởng toàn thân. Bái Phật rồi, thân thể phóng túng của họ được an định trở lại, sau đó mới tiến thêm một bước là buông vọng niệmđiều tâm.

Xướng tụng và cầu nguyện là một đề mục khác trong giáo trình hướng dẫn tu thiền của tôi. Sức mạnh của cầu nguyện thì Tâm lý học lẫn Khoa học đều vô phương giải thích.

Khi chúng ta cầu nguyện, tâm phát sinh sức mạnh. Nói theo Phật pháp thì người cầu nguyện cùng đối tượng cầu nguyện cũng giống như… cái chuôngngười gõ chuông – hay sự liên quan giữa cái gương cùng người soi gương – Nếu không có người gõ chuông, thì chuông chẳng thể ngân. Nếu không có người đứng trước gương, thì gương chẳng hiện hình! Khi cầu nguyện trước đối tượng, nếu người ta nhất tâm và có đại tín tâm thì mới có phát sinh năng lực. Cơ đốc giáo cũng tin như thế. Chỉ có người tin được cứu. Chính từ quan điểm này, tín ngưỡng Phật giáo cùng tôn giáo Tây phương tuyệt chẳng khác biệt nhau. Tín ngưỡng là căn nguyên động lực cầu nguyện.

Một bực khác nữa, tu hành Thiền có thể phát sinh tâm lực. Ví như khi mẫu thân tưởng nhớ đến con, thì khi đó con cũng nhận thấy là mình phải viết thư hay điện thoại về cho gia đình. Người con linh cảm được mẫu thân đang mong, cho dù không trực tiếp nghe mẫu thân nói.

Dạng tâm lực này diễn biến khắp toàn cầu, Đông phương, Tây phương đều có! Nhưng đây mới chỉ là sức mạnh nội tâm của cá nhân mà thôi. Thử tưởng tượng, lúc ngàn người đều cùng nhau tụng chú Đại Bi, thì trong đó sẽ phát sinh sức mạnh cảm ứng cực kỳ lớn, nhân duyên tăng mau, thành thục… cho đến khi chuyển biến xuất hiện.

Người ta có thể vì cần ngân quỹ mua đất xây chùa mà cùng nhau cầu nguyện, việc này từng phát sinh khi chúng tôi lập ra Pháp Cổ Sơn, xây dựng Đạo tràng và Đại học Phật giáo lúc quyên tiền mua Viện Nghiên Cứu… Đây không phải là Bồ Tát Quan Thế Âm khiến những người này đồng ý cho mua đất, mà do lúc xưng niệm Bồ Tát Quan Thế Âm, trong tâm sản sinh ra sức mạnh đem lại kết quả này. Đương nhiên nhân duyên kết tựu thành quả cần phải chín muồi; nếu không, cho dù nhiều người đồng cầu nguyện cũng vô dụng.

Thiền tông không khuyến khích cá nhân mượn việc xướng tụng để cầu nguyện một kết quả đặc biệt nào đó. Thiền sư cầu việc gì, không phải vì bản thân, mà là cho cả mọi người. Ví như khi thiên tai hạn hán nghiêm trọng xẩy đến, đất khô cằn nứt nẻ, có thể các viên chức địa phương sẽ thỉnh hòa thượng cầu mưa. Ví dụ như, Hòa thượng cầu mưa, được mưa rất nhiều. Người Tây phương cho đây là hoàn toàn mê tín! Điểm này tôi đồng ý, có thể cho là đây chỉ là hoàn toàn trùng hợp. Cầu mưa được mưa, chẳng qua chỉ là mưa tình cờ rơi xuống đúng lúc, bất kể là có người cầu mưa hay không.

Nhưng mà, những gì tôi làm và từng dạy, không thể dùng Tâm lý học hoặc Khoa học để mà giải thích! Việc khai ngộ trong Thiền tông không thể dùng thí nghiệm tạo ra, cũng không thể dùng máy móc cơ khí để khảo sát thăm dò! Khai ngộ chỉ thông qua thực chứng, như người uống nước, nóng lạnh tự biết!

Tôi đã từng giới thiệu các phương pháp hướng dẫn môn sinh, những phương pháp này quan niệm chủ yếu là quán nhân duyên. Bất luận sự vật gì sinh diệt đều có nguyên nhân của nó. Có những nguyên nhân ta biết và có những nguyên nhân ta không biết. Mỗi sự tình phát sinh đều có nguyên nhân, nếu chúng ta không thể liễu giải, là do sự thấy biết của chúng ta hữu hạn.

Pháp nhân duyên là nghĩa lý tối quan trọng trong Phật pháp. Nếu như liễu giải điểm này, thì sẽ không vứt bỏ và cũng không cưỡng cầu việc không thể đạt đến; sẽ không ganh tỵ người khác hay sầu oán bản thân mình! Lúc gặp chướng ngại, cần phải giúp cho thiện duyên tăng trưởng, khiến cơ hội thành công tăng gia. Mặc dù có những người tu hành rất lâu, chưa khai ngộ, nhưng họ vẫn thấy việc tu hành rất có ích và rất hạnh phúc.

Tôi bảo học sinh đừng tơ tưởng đến việc khai ngộ, bởi vì nhân duyên này không phải là điều mà chúng ta có thể hoàn toàn lý giải được. Tôi từ năm 1976 bắt đầu dạy thiền, có nhiều học sinh trước khi theo tôi học tập đã khởi sự tu hành, một mực không khai ngộ, nhưng họ không từ bỏ. Họ hiểu nhân quả rất thâm diệu và không hề thất vọng, họ chẳng kiêu căng cao ngạo hay hưng phấn quá độ.

Mấy năm nay dạy Thiền tại Hoàng Hậu Khu (Queens, New York), tôi từ một hành giả tu thiền trở thành thầy dạy thiền – Thiền sư không sản sinh ra từ huấn luyện, cũng không phải là tất cả người xuất gia hiện hữu đều có thể thành Thiền sư. Thiền sư cần có các điều kiện phù hợp: Phải có thể nghiệm kiến tánh, phải hiểu biết Phật pháp uyên thâm, hơn nữa cần có đủ kiến giải để thuyết giảng giáo lý minh bạch và khai thông tốt đẹp cùng người, như vậy mới có thể chân chính làm xúc động tha nhân, và cũng cần phải có một trường để dạy học.

Tôi mãi đến 50 tuổi mới thành là Thiền sư. Trước đó, vẫn còn tìm tìm kiếm kiếm, chưa thể phát triển phương pháp dạy học của bản thân cũng như chưa

chuẩn bị đủ điều kiện để làm thầy. Một khi trở thành Thiền sư, tôi rất cần đối phó với gánh nặng quyền lựclực ảnh hưởng của quyền uy cho ổn thỏa tốt đẹp.

Xem khắp lịch sử Thiền tông, các Thiền sư hiểu quyền lực chỉ là những thứ thuộc trần thế (trần thế chi vật), tất phải có trách nhiệm và lưu tâm đối phó với nó. Cũng có những Thiền sư nhân vì sức tu hành không đủ, bị lún sâu trong quyền lực, đến nỗi đánh mất bản sắc và trách nhiệm của mình. Đa số các Thiền sư nổi danh đều hiểu và biết cách đối phó với danh vị lẫn quyền lực ra sao. Có lúc thậm chí phải rời bỏ chúng! Có một câu chuyện kinh điển vào đời Tống:

Một vị Thiền sư chính trị đang thời rất phát, nhưng ông quyết định buông bỏ, nghỉ hưu. Vị đệ tử là một cao quan, rất nhớ ông, bèn cất công đi tìm. Cao quan này đi đến một ngôi tự viện tương đối có tiếng tăm, hỏi thăm chúng xuất gia là ở đây có bậc Đại tu hành nào không. Các tu sĩ trong chùa trả lời: “Không có, chúng tôi đều là những người bình thường. Lúc ăn cơm thì ăn, đến thời ngủ thì ngủ.”

Viên quan hỏi: “Có người nào khai ngộ hay chưa?”

Người nói mình khai ngộ, nhất định là chưa khai ngộ. Khai ngộ là chuyện cá nhân! Một vị tu sĩ đáp.

Sau đó viên quan nhìn thấy một vị tăng đang phục vụ bữa ăn cho người nơi Trai đường, trông rất quen. Ông cố nhớ nhưng nghĩ không ra mình đã quen vị này như thế nào, bèn đến hỏi thầy tri sự:

Ông ta pháp danh là gì?

Thầy tri sự đáp:

Ông ta không có tên, ngụ ở đây đã hơn một năm rồi. Ông ấy làm việc trong nhà bếp và lo chăm sóc vườn hoa.

Thầy có cảm thấy ông ta là Đại pháp sư chăng? – Viên quan hỏi.

Đừng nói nhảm! Trong đây không có Đại pháp sư nào đâu.

Dùng cơm xong, viên quan đến gần vị tu sĩ mình cảm thấy quen thuộc ấy, cất tiếng hỏi thăm:

Tôi đã gặp qua thầy ở đâu rồi chăng?

Vị này trả lời:

Tôi chẳng nói dối, nhưng không thể nói thật. Có thể anh quen biết y, nhưng tôi chẳng quen y. Sau đó ông bỏ đi làm việc của mình.”

Ông ta đích xác là sư phụ vị cao quan, sau khi từ bỏ chức Trụ trì rồi, ông đến nơi khác làm các việc tầm thường. Vì sao ông muốn như thế? Bởi vì ông đối với chức vị, quyền lực từng sở hũu trước đây, chẳng có mảy may đắm luyến và chấp trước.

(Trích đoạn từ Thánh Nghiêm tự truyện, bản dịch của Hạnh Đoan) – Nguồn: ngocbao.org

—> bài đọc thêm: Biên Niên Tự Thuật của Thiền Sư Hư Vân

————————————————————-
Tìm hiểu thêm về:

Trả lời

Thư điện tử của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *

Chuyên mục