Phật giáo Tiểu thừa và Đại thừa
(nội dung được cập nhật khi có thể).
1. Tóm lược
Khi đức Phật còn tại thế, tùy theo trình độ của người nghe, hay người thưa hỏi mà Ngài thuyết pháp có nông sâu, cao thấp. Tuy cùng nghe một bài pháp, nhưng sự lĩnh hội của mỗi người cũng có thấp cao không giống nhau. Mặt khác do đối tượng thuyết pháp không giống nhau cho nên nội dung và cảnh giới thuyết pháp cũng khác nhau.
Tiểu thừa (Phạn ngữ: hīnayāna) nghĩa là “cỗ xe nhỏ”. Một số tên gọi khác của Phật giáo Tiểu thừa hiện nay là Phật giáo Nam truyền, Nam Tông, Phật giáo Theravada, Phật giáo Trưởng Lão Bộ .v.v….. (truyền về các nước phía Nam Ấn Độ), Phật giáo Thượng tọa bộ Theravāda gồm nhiều bộ phái Tiểu thừa khác nhau. Tiểu thừa cũng bao gồm rất nhiều tông phái, chi phái khác nhau(giống như nhiều bộ phái, tông phái của Đại Thừa), tuy nhiên có nhiều những điểm chung nên gọi chung như vậy. Các nước Phật giáo Nam Tông Tiểu Thừa có nhiều ảnh hưởng hiện nay là Sri lanka, Myanmar, Thái Lan, Campuchia, Lào. Phật giáo Nam Truyền (Tiểu Thừa) chỉ bao gồm một vài bộ Phái Phật giáo trong rất nhiều bộ phái/chi phái khác của Phật giáo; cũng đã phát triển qua thời gian, kinh điển, sách luận của 1 số trường phái này thường theo hệ văn Pali(hoặc được dịch từ Kinh điển Pali) và chỉ được chọn lọc riêng ra để phù hợp với cách tu tập, truyền thống của trường phái này. Các Kinh, sách luận của bộ phái hoặc tông phái khác trong Phật giáo sẽ không được lựa chọn đưa vào để bảo vệ cho tông phái mình, thống nhất cách đọc tụng hành trì, tránh sự tranh cãi.
Thông tin về lịch sử kiết tập tam tạng Kinh điển của Phật giáo Nam Truyền hoặc các bộ phái Theravada chỉ là thông tin đại diện cho riêng truyền thống/bộ phái Phật giáo này đưa ra và không hề đại diện cho Phật giáo thời kỳ đầu của các bộ phái Phật giáo khác nói chung. Do yếu tố cách biệt về địa lý, sự khác biệt nhiều về tông chỉ và cách hành trì giữa nhiều bộ phái, tông phái Phật giáo(PG) cho nên nhiều người mới tìm hiểu Phật giáo, hoặc những người lớn lên và tu tập trong môi trường Phật giáo Nam truyền lâu năm đã chỉ tiếp nhận thông tin lịch sử một chiều, hoặc có sai lệch nhiều thông tin về các bộ phái Phật giáo khác. Kinh điển của Tiểu Thừa Theravada cũng đã phát triển và có sự thay đổi nội dung theo thời gian (bao gồm các yếu tố huyền thoại, thần thoại, chuyện cổ Phật giáo… được sáng tác theo dòng phát triển của lịch sử).
Đại thừa (Phạn ngữ: mahāyāna) nghĩa là “cỗ xe lớn”. Một số tên gọi khác hiện nay như Phật giáo Bắc truyền( truyền về các nước/vùng miền phía Bắc của Ấn Độ), Bắc Tông. Đại thừa cũng bao gồm nhiều tông phái, bộ phái, chi phái khác nhau; trong đó có cả tông phái Tiểu thừa. Các nước(vùng miền lãnh thổ) trong lịch sử có truyền thống Đại Thừa ảnh hưởng nhiều là Bhutan, Nhật Bản, Việt Nam, Trung Quốc, Hàn Quốc, Bắc Triều Tiên, Mông Cổ, Ấn Độ, Malaysia, nhiều vùng miền, tiểu quốc phía Bắc Ấn khi xưa .v.v…. Phật giáo Bắc Truyền cũng đã phát triển theo thời gian giống Nam truyền Tiểu Thừa.
Từ thời Phật tại thế cho tới thời kỳ kiết tập Kinh điển Phật giáo lần thứ 2 thì có thể lời Phật dạy chưa được ghi lại bằng văn bản, nhiều người cũng cho rằng cả lần kiết tập kinh điển lần thứ 3 cũng chưa được ghi lại bằng văn bản(hoặc rất hạn chế), Chưa có nhiều đối lập-phân chia tông phái rõ ràng. Thời điểm này tạm gọi được phân chia làm 2 nhóm do có 1 số quan điểm khác biệt về giới luật. Về sau này cho tới hiện nay do có một số khác biệt lớn giữa các tông phái/các pháp môn ở các vùng lãnh thổ các nước phía Nam Ấn Độ và Bắc Ấn Độ thì tên gọi Tiểu thừa, Đại thừa mới phổ biến. Thậm chí theo lịch sử kết tập kinh điển đầu tiên của Tiểu Thừa đưa ra thì lần kết tập Kinh điển đầu tiên có 500 vị A-la-hán tham dự do ngài Ma-Ha-Ca-Diếp chủ trì, tuy nhiên trong tăng đoàn của Phật Thích Ca có tối thiểu từ 1250 vị A-la-hán.
Một điều cần nhấn mạnh lại là “Phật giáo Thượng Tọa Bộ Theravada” chỉ bao gồm một vài bộ phái Phật giáo, nhiều người theo Phật giáo Tiểu thừa đã diễn giải thiên kiến, sai lệch về các bộ phái Phật giáo khác.
Khoảng thời gian đầu khi phân chia thành nhiều bộ phái không có nhiều đối lập, có thể do thời điểm này Phật giáo chưa được truyền bá rộng rãi ra nhiều nước hay vùng lãnh thổ trên toàn cầu và xung quanh Ấn Độ; đồng thời tỷ lệ dân chúng trong và ngoài Ấn Độ theo Phật giáo không nhiều.
2. Một số khác biệt lớn giữa tiểu thừa và đại thừa hiện nay
Về tổng quan thì PG Nam truyền cũng đã phát triển theo thời gian. Xét trên phạm vi hẹp thì cũng có không ít hành giả và học giả Nam Tông hoặc những người trung lập thừa nhận cả 2 truyền thống có nhiều điểm chung, thường thiên về các truyền thống Thiền(không phải tứ thiền-bát định gắn với Bà-la-môn giáo).
Sự phân biệt Tiểu Thừa và Đại Thừa hiện nay trên bình diện tư tưởng khá mạnh mẽ trong một khoảng thời gian dài; cho nên hiện nay người học Phật nếu tham khảo các sách luận, luận giảng, sách lịch sử Phật giáo, bài giảng từ cơ bản tới chuyên sâu của các học giả, tác giả, nhà nghiên cứu, tu sĩ từ truyền thống Phật giáo Nam Truyền Tiểu thừa về các bộ phái/Tông phái Phật giáo khác thì chỉ nên coi đó là sách-tài liệu mang tính tham khảo.
Các nước(hoặc vùng miền) có truyền thống PG Nam Tông Tiểu Thừa hiện nay rất hạn chế đưa sách Kinh Đại Thừa hoặc sách luận vào trong hệ thống Kinh,Luận, Luật của mình trong một khoảng thời gian rất dài(1 số nước trước đây từng có nhưng hiện tại thì không) nên sự hiểu biết về giáo lý Đại thừa rất hạn chế, trừ một số người tự nghiên cứu tìm hiểu.
Truyền thống PG Tiểu Thừa-Nam Truyền cũng chia làm rất nhiều Tông phái, chi phái, hệ phái. Giữa các Tông phái, chi phái, hệ phái này cũng có khác biệt rất nhiều về cách thực hành hoặc diễn giải Phật pháp. Giữa các Tông phái, chi phái, hệ phái lớn của Tiểu thừa cũng tranh luận, phản biện, hoặc chỉ trích rất gay gắt lẫn nhau về nhiều mặt của giáo Pháp.
Khoa học hiện đại đã phát triển và đưa vào giảng dạy ở nhiều nơi có truyền thống Phật giáo ảnh hưởng, cho nên Phật giáo hiện đại thế kỷ 21, nhiều tín đồ và không ít tu sĩ có nhiều nhìn nhận khác biệt xa so với PG Truyền thống nhiều thế kỷ trước.
Truyền thống Nam Tông-Tiểu thừa, thường ai cúng dường thức ăn gì thì chư tăng dùng cái đó, bao gồm cả thịt, cá .v.v. Một số nơi Truyền thống Đại thừa có sức ảnh hưởng thì thường chư tăng trường chay(quan niệm ăn chay cũng khác nhau giữa các tông phái, hoàn cảnh sống).
-Truyền thống Đại thừa cho rằng sự giác ngộ hoặc kiến tánh giữa tu sĩ và người tại gia, nam và nữ là bình đẳng như nhau .v.v.
-Truyền thống Phật giáo Nam truyền Tiểu thừa(thời điểm 2022) thường vẫn không chấp nhận cho nữ giới xuất gia thọ giới tỳ-kheo-ni (do bối cảnh xã hội & sinh hoạt hằng ngày, một số nơi còn ảnh hưởng từ thời phong kiến .v.v.). Nhiều Phật tử, trí thức trong Phật giáo Nam Tông hay Phật giáo tại Âu-Mỹ cũng không đồng tình việc này.
-Theo Thiền Tông thì không có gì để chứng đắc.
-Sự khác biệt về giới Luật: không đề cập ở đây.
3. Sự kết hợp cả hai truyền thống.
Ở một số nơi, vùng miền, có một số hệ phái kết hợp cả giáo lý Đại Thừa và Tiểu Thừa(Bắc truyền và Nam truyền).
4. Phật giáo nguyên thủy.
Từ “Phật giáo nguyên thủy” ở Việt nam hiện nay có thể được hiểu theo các nghĩa như sau:
+Ý chỉ cho Phật giáo Đại thừa hoặc Phật giáo Theravada(là một trong những nhánh lớn của Phật giáo Nam Truyền(Tiểu thừa), là một bộ phái lớn trong nhiều bộ phái khác của Phật giáo, ra đời sau thời kỳ phân chia bộ phái).
+Theo thời gian các tông phái, chi phái, truyền thống lớn của Phật giáo đều đã phát triển.
+ Ý chỉ cho những người thấy “tâm bình thường là đạo”, nhìn sự vật sự việc như chúng là mà không khởi lên các khái niệm, gán nhãn, dính mắc .v.v. ví dụ bạn nhìn bông hoa thấy là bông hoa, thấy cái dây thừng là cái dây thừng chứ không phải con rắn, khi tức giận(giận dữ) nhận ra mình tức giận(giận dữ) rồi điều chỉnh về tâm bình thường .v.v. Nhiều người thực hành và nghiên cứu chuyên sâu cũng cho rằng Thiền Tông cũng là PG nguyên thủy (giác ngộ, đốn ngộ, thấy tánh… không phải qua sự ngồi mà giống như trên đề cập).
– Quan điểm cho rằng Phật giáo Tiểu Thừa mới là nguyên thủy nhất dựa trên lập luận “những bài Kinh của truyền thống này còn lưu trữ được tới hiện nay, là gần với thời đức Phật hơn” là không chính xác, mang thiên hướng đề cao truyền thống bộ phái của mình, hạ thấp truyền thống khác. Thời kỳ đầu các Kinh điển Phật giáo(lời dạy của Đức Phật) thường được truyền miệng để dễ dàng đọc tụng, ghi nhớ và thực hành(đây là phương pháp thực tế và hiệu quả thời kỳ đó). Nhiều vùng dân chúng không biết chữ, không có chữ, nên sau này mới được Kết tập lại là chuyện bình thường. Một vấn đề quan trọng nữa đó là thời kỳ đầu hình thức truyền bá Phật giáo là truyền khẩu, ghi nhớ, đọc tụng; nên đặt ra vấn đề bài Kinh theo tông phái của mình còn lưu trữ bằng văn bản cổ xưa nhất cho nên truyền thống của mình là nguyên thủy nhất là không chính xác.
-Thế kỷ 21 khi khoa học hiện đại phát triển thì nhiều chuyện thần thông huyền thoại trong Kinh sách Tiểu Thừa nhiều người cũng không tin. Nhiều người hoặc nhà nghiên cứu cho rằng các câu chuyện(thần thông, động vật biết nói, luân hồi…) trong PG Tiểu thừa thời cổ đại… chỉ là các câu chuyện dân gian PG được sáng tác để nhằm mục đích giáo dục hơn là có thật.
5. Phật giáo phát triển.
-Ý chỉ cho PG Nam Truyền(Tiểu thừa, Nam Tông) cũng đã phát triển. Một ví dụ tiêu biểu đó là tạng Thắng Pháp (một số tên gọi khác là: Vi Diệu Pháp, Abhidhamma, Vô Tỷ Pháp, A tỳ đàm…) trong Phật giáo Nam Truyền(Tiểu Thừa, Thượng Tọa Bộ) được nhiều người trong chính truyền thống Phật giáo Tiểu Thừa và nhiều Bộ phái Phật giáo khác, hoặc nhà nghiên cứu PG thời xưa và hiện đại xem là do các vị đa văn biên tập, biên soạn và đưa vào đó tri kiến riêng, trong đó có bao hàm/chứa một phần, một số lời dạy của Đức Phật[3]; Do vậy Thắng Pháp (A-tỳ-đàm, Abhidhamma, Vô Tỷ Pháp .v.v.) chỉ được xếp vào Tạng Luận trong truyền thống Đại Thừa. Bởi vì trong thực tế các vấn đề phân tích, chia chẻ các trạng thái tâm, v.v… thành quá nhiều loại nhỏ, quá chi tiết; cho nên nhiều “người học Phật” có thể dễ dàng đoán rằng ngôn ngữ và bố cục của những bộ luận đó không phải chính Đức Phật trình bày.
-PG Nam truyền nhiều nơi cũng kết hợp với tín ngưỡng, văn hóa tâm linh mang tính chất vùng miền, cục bộ địa phương giống như PG Bắc Truyền.
-Trong quá trình truyền bá rộng rãi ra toàn cầu của Phật giáo, đã có rất nhiều các cá nhân, ngoại đạo kết hợp triết lý Phật giáo với tôn giáo, tín ngưỡng của mình.
+Do một số cá nhân có hiểu biết Phật giáo ở một mức độ nhất định, muốn kết hợp giáo lý Phật giáo với quan điểm cá nhân, các tín ngưỡng và tôn giáo khác.
-Một ví dụ tiêu biểu về các giáo phái, môn phái mạo danh là pháp môn của Phật giáo, sao chép và diễn giải sai lệch Phật giáo theo ý kiến/triết lý riêng của mình như Pháp Luân Công do Lý Hồng Chí lập ra để thu hút tín đồ PG.
-Đạo Cao đài cũng kết hợp sao chép giáo lý Phật giáo rồi kết hợp với giáo lý của riêng mình hoặc tôn giáo khác .v.v.
-Theo tìm hiểu của người viết thì Phật giáo Tây Tạng(Lạt-ma giáo) hiện nay là một trong những truyền thống(tông phái, chi phái) Phật giáo lớn có chứa đựng nhiều yếu tố ngoại đạo nhất (Hindu giáo kết hợp tôn giáo bản địa vùng Tây Tạng, Bắc Ấn Độ và Phật giáo) so với các tông phái/chi phái hay bộ phái Phật giáo khác. Tuy nhiên nếu kết luận Lạt-ma giáo Tây Tạng không phải là Phật giáo thì không chính xác bởi truyền thống này vẫn có một phần các triết lý cơ bản của Phật giáo.
7. Tổng kết
Hiện nay (những người nói Tiếng Việt) từ tiểu thừa hay đại thừa ít được sử dụng hơn đôi chút cho những người mới tìm hiểu. Chứ điều đó không có nghĩa là sự phân biệt tiểu thừa hay đại thừa có giảm bớt đi. Đây là điều hiển nhiên bởi lẽ trong Phật giáo có nhiều Pháp môn/Tông phái khác nhau và Phù hợp với nhiều hoàn cảnh sống, văn hóa vùng miền, nghề nghiệp, cách ăn uống sinh hoạt khác nhau.
-Truyền thống(tập tục) “xuất gia gieo duyên” trong Phật giáo Nam Truyền Tiểu thừa không hề có trong Phật giáo thời kỳ đầu. Hiện nay đó là một nét văn hóa truyền thống, có một số mặt tích cực đi kèm 1 số mặt tiêu cực. Trong truyền thống Bắc truyền thì thường có 1 khóa tu ngắn hạn 1 vài ngày gieo duyên hoặc một số nơi cung cấp cho mọi người không phân biệt tôn giáo một khóa trải nghiệm ngắn hoặc dài ngày về đời sống tu viện.v.v.
-Việc các truyền thống/tông phái chỉ lựa chọn các bản Kinh phù hợp với triết lý của mình là điều rất dễ hiểu. Trong đại tạng kinh Bắc truyền, có rất nhiều kinh điển tương đương hoặc được dịch từ tạng Nam Truyền.
-Ở Thái Lan, nhiều chùa kinh doanh buôn bán bùa chú, ở quy mô lớn; chữa-trục vong hồn; sử dụng bùa ngải .v. có không ít mặt trái hay hiện tượng tiêu cực của PG Thái Lan hay 1 số vùng khác có thể nói là đi khá xa khỏi triết lý PG. Thời xưa do giao thông chưa phát triển, truyền thông, internet, đặc biệt là mạng xã hội chưa phổ biến nên thường người ta biết thông tin trong một vùng miền, hoặc trong nước rõ hơn là ở các nước khác. Nên thường có cái nhìn phiến diện.
-Thiền Vipassana khi truyền sang các nước Âu-Mỹ hay một số nơi, được lược bỏ đi yếu tố tôn giáo cho những người mới tìm hiểu về Thiền cũng có thể được gọi là Thiền Phát Triển, Thiền Đổi Mới, Thiền hiện đại.
– Cả 2 truyền thống đều công nhận có nhiều vị Phật đã thành đạo trong quá khứ.
– Đại thừa và Tiểu thừa đã từng phát triển song hành ở một số nước theo Phật giáo Nam Tông, ví dụ như ở Srilanka[2]. Từng có thời phật giáo Đại thừa chiếm phần áp đảo hơn so với Tiểu Thừa, và ngược lại. Mỗi khi truyền thống nào thịnh hơn thì thường sẽ bị truyền thống còn lại công kích.
– Phật giáo gắn liền với từ bi cho nên trong quá khứ khi truyền bá vào một vùng miền hay lãnh thổ nào đó, sau khi được nhiều người chấp nhận và đứng vững, thì ít có hiện tượng triệt tiêu, bài xích các tín ngưỡng tôn giáo khác một cách cực đoan như một số tôn giáo độc thần lớn khác.
Khi một học giả, tác giả nào đó ở Âu-Mỹ tìm hiểu nghiên cứu Phật giáo, tiếp xúc với các tư tưởng, sách, luận từ những người Nam Tông, thì việc trích dẫn quan điểm từ nguồn này, cho dù là người có trình độ(Đại học, sau Đại Học của thế tục hoặc chuyên khoa tôn giáo) thường chỉ mang tính tham khảo về PG.
Trong Kinh tạng Phật giáo Bắc Truyền(Đại Thừa) có 4 bộ A-hàm gồm nhiều bài kinh khác nhau — gần như tương đương với Kinh điển của Nam Truyền Tiểu Thừa. Đồng thời còn có thêm rất nhiều Kinh điển khác nữa…
Khi nào thì những người theo PG Nam Truyền Tiểu thừa mới hết công kích cực đoan Phật giáo Bắc Truyền?
Câu trả lời là: không thể hết công kích cực đoan hoặc công kích ngầm bài viết, bài giảng v.v. mà chỉ giảm bớt được phần nào nếu như các tông phái, chi phái PG Nam Truyền(Tiểu Thừa) biên dịch, biên tập các Kinh điển hoặc sách luận để tu sĩ, tín đồ tham khảo.
Theo tìm hiểu chuyên sâu của người viết về hầu hết các vấn đề và lĩnh vực mà Phật giáo Tiểu Thừa Nam Tông thường hay sử dụng để công kích hoặc phản biện về Phật giáo Đại Thừa; thì các vấn đề hay lĩnh vực đó đều có xuất hiện trong Phật giáo Nam Tông(bao gồm cả Kinh Luận). Chuyện này đã tiếp diễn liên tục hơn cả ngàn năm nay nhưng không thay đổi được hiện trạng của Phật giáo.
Một thông tin tích cực mà bạn đọc cần biết đó là Phật pháp là để thực hành, Kinh điển, sách luận nhiều, đã phát triển ra toàn cầu, nên việc tranh luận, phản biện, ngộ nhận, tranh cãi, luận giải, đôi khi chỉ trích nhau rất gay gắt là chuyện rất bình thường.
Tổng hợp(07/2024)
Bài viết sẽ được cập nhật, bổ sung khi có thể (giống wikipedia). Nếu bạn có góp ý, bổ sung, có thể để lại bình luận.
- Những đặc thù của Phật giáo và Thiền thời hiện đại
- Bản Liệt Kê: Phật Giáo Sơ Thời(Nguyên Thủy) Khác Với Theravada Điểm Nào
- Vấn đề nữ giới chứng A La Hán trong tam tạng Phật giáo
Chú thích/tham khảo:
[1] Căn cơ ở đây không liên quan gì tới một người thông minh, có bằng cấp-học vị cao, bình thường, hay ngu đần mà người thường(thế tục) hay sử dụng.
[2] Vài Nét Lịch Sử Phật Giáo Đại Thừa Tại Sri Lanka, Thích Nguyên Lộc
[3] -Vi Diệu Pháp giảng giải — Tỳ khưu Giác Chánh (Ban Hoằng Pháp Pháp Quốc).
– Sự hình thành của A Tỳ Ðạt Ma — Thích Thiện Siêu.







